Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Luật Môi trường xuất hiện sớm ở các nước phát triển. Các nước có tốc độ công nghiệp hóa nhanh thì thách thức MT càng trở nên quyết liệt.
Từ cuối thế kỷ 19, đã xuất hiện các điều ước song phương và đa phương về vấn đề MT. Đến đầu thế kỷ 20, là sự ra đời một số điều ước về bảo vệ một số động vật có giá trị thương mại; những năm 50, 60 là các điều ước về trách nhiệm quốc gia đối với tai nạn hạt nhân; cuối những năm 60 là điều ước về ô nhiễm dầu và kiểm soát về ô nhiễm dầu. Từ những năm 70 trở đi, với sự kiện Hội nghị Stockholm 1972 của các quốc gia phát triển, thì hàng trăm điều ước đã được ký kết. Đây được coi là một trong những sự kiện quan trọng đánh dấu sự phát triển của các chính sách về MT trên thế giới.
Hội nghị được tổ chức vào ngày 05/06/1972 đến ngày 14/06/1972 tại Stockholm, Thụy Điển, thu hút sự tham gia của 118 quốc gia trên thế giới, với chủ đề “Môi trường và con người”. Hội nghị quyết định thành lập chương trình MT của Liên hiệp quốc, viết tắt là UNEP, quyết định thành lập quỹ MT toàn cầu, hình thành 26 nguyên tắc quan trọng, 119 khuyến nghị và quyết định lấy ngày MT thế giới là ngày 05/06 [30]. Đây được coi là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc toàn cầu hóa các vấn đề về MT. Tiếp theo của sự kiện này là hàng loạt các hội nghị và điều ước về MT đã xuất hiện, tiêu biểu: Hội thảo các chuyên gia về giáo dục MT được tiến hành tại Beograd 1975, để chuẩn bị cho Hội nghị tại Tbilisi; Hội nghị liên chính phủ về giáo dục MT đã được tổ chức tại Tbilisi 1977; Hội nghị Rio de Janeiro 1992; Hội nghị môi trường 2002; Hội nghị Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu 2007; Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (COP15) 2009; Công ước về buôn bán các động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) 1973; Công ước về bảo vệ tầng ôzôn 1985; Công ước khung biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (UNFCCC) 1992; Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân ủy (POP) 2001; Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982.
Khái niệm về GDBVMT - học tập MT trên thế giới là thành quả đạt được từ Hội thảo Beograd và Hội nghị Tbilisi. Tuyên bố chung tham gia dự Hội nghị Tbilisi gồm 5 mục tiêu: (1) Nhận thức - để giúp các nhóm xã hội và cá nhân có được nhận thức và sự nhạy cảm đối với MT tổng thể và các vấn đề liên quan của nó. (2) Kiến thức - để giúp các nhóm xã hội và các cá nhân có được nhiều kinh nghiệm và có được sự hiểu biết cơ bản về MT và các vấn đề liên quan của nó. 6 (3) Thái độ - để giúp các nhóm xã hội và cá nhân có được một tập hợp các giá trị và cảm giác quan tâm đến MT và động lực để tham gia tích cực vào việc cải thiện và BVMT.
Như vậy, vấn đề MT, BVMT đã được các quốc gia trên thế giới ý thức rõ tầm quan trọng từ rất sớm và cho đến nay vẫn tiếp tục được quan tâm, đưa vào chính sách phát triển chiến lược của mỗi quốc gia. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này cần có sự chung tay của tất cả các quốc gia và phải bắt đầu từ việc giáo dục thế hệ trẻ. Nội dung GDBVMT đã được đưa vào chương trình giảng dạy trong các nhà trường, ở các cấp học. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm các nước đi trước, nếu chỉ có việc học ở lớp thôi thì chưa đủ, mà cần tổ chức các chương trình hành động để HS được tham gia hoạt động, từng bước hình thành cho HS kỹ năng, thái độ và hành vi trong việc bảo vệ MT, hướng đến sự phát triển bền vững.
Các nghiên cứu trong nước Từ sau Đổi mới (1986), thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ BVMT luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và được xác định là một trong ba trụ cột trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững của nước ta. Hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng, hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng hoàn thiện, các hoạt động BVMT của nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững. Ngày 25 tháng 6 năm 1998, Đảng ban hành Chỉ thị số 36/1998/CT-TW về "Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Đây là lần đầu tiên Đảng ban hành chỉ thị về BVMT, đã đề ra 4 quan điểm cơ bản: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững" [2].
Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết của Đảng tiếp tục nhấn mạnh quan điểm BVMT gắn với phát triển bền vững. Ngoài nội dung tăng trưởng kinh tế đi đôi với BVMT còn có thêm nội dung mới, không chỉ BVMT mà còn cải thiện MT, gắn chặt chính sách MT với chính sách phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng - an ninh, coi việc cải thiện MT là một tiêu chí để đánh giá sự phát triển. 7 Sau 6 năm ban hành và thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) và chỉ đạo của Đảng trong Đại hội IX, mức độ gia tăng ô nhiễm MT đã được hạn chế. Tuy nhiên, MT nước ta vẫn bị xuống cấp nhanh, có nơi có lúc đã đến mức báo động.
Trước thực trạng đó, Đảng ban hành Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/ 2004 của Bộ chính trị (khóa IX) về "Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước". Nghị quyết 41-NQ/TW đã nêu 5 quan điểm: - BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta; - BVMT vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ BVMT. Đầu tư cho BVMT là đầu tư cho phát triển bền vững; - BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta; - BVMT phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với MT là chính kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện MT và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống; - BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân" [3].
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI tiếp tục nhấn mạnh vấn đề BVMT và khẳng định BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; đầu tư cho BVMT là đầu tư cho sự phát triển bền vững; tăng cường BVMT, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Điều đó cho thấy, công tác BVMT được Đảng ngày càng đặc biệt quan tâm. Năm 2015 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành công văn số 2029/BGDĐT- KHCNMT về việc hướng dẫn các sở Giáo dục và Đào tạo; các trường đại học và cao đẳng; các viện và trung tâm nghiên cứu trực thuộc Bộ xây dựng kế hoạch BVMT 2016 để triển khai thực hiện nhiệm vụ BVMT trong các cơ sở giáo dục. Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã luôn chú trọng vấn đề này.
Giáo dục ý thức BVMT không chỉ là phong trào, khẩu hiệu mà thực sự đã trở thành nhiệm 8 vụ cấp bách, được đưa vào các cấp học ngay từ khi trẻ em còn rất nhỏ. Nội dung, chương trình cũng như phương pháp giáo dục ý thức BVMT cũng luôn được thế giới và Việt Nam quan tâm không chỉ trong phạm vi nhà trường mà còn ngay cả gia đình và ngoài xã hội. Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về MT, BVMT và giáo dục ý thức BVMT, trong đó có một số công trình tiêu biểu như: Môi trường của Lê Huy Bá; Giáo dục môi trường của Nguyễn Hữu Chiếm và Lê Hoàng Việt, Môi trường và GDBVMT của tập thể tác giả do Lê Văn Khoa chủ biên, GDBVMT trong môn Mĩ thuật cấp tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bài viết Sử dụng phương pháp điều tra trong dạy học chủ đề “Môi trường và tài nguyên thiên nhiên” của môn Khoa học ở tiểu học của Nguyễn Thị Hường và Lê Thanh Hương; bài viết Môi trường sinh thái vấn đề của mọi người của Thanh Tâm; luận án Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoài giờ lên lớp của Huỳnh Thị Thu Hằng; luận án của Nguyễn Thị Vân Hương với đề tài Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho HSTH.