CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm môi trường Môi trường có nghĩa là mọi thứ xung quanh đối với một sinh vật sống. Đặc biệt là hoàn cảnh sống của con người hay xã hội trong điều kiện sống của họ.
Nó bao gồm tập hợp các giá trị tự nhiên, xã hội và văn hóa tồn tại ở một địa điểm và tại một thời điểm cụ thể, có ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và các thế hệ sau này. Tức là, nó không chỉ là không gian mà sự sống phát triển, mà nó còn bao gồm các sinh vật sống, vật thể, nước, đất, không khí và các mối quan hệ giữa chúng cũng như vô hình như văn hóa. Khái niệm MT trong Luật bảo vệ MT đã được Quốc hội nước ta thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [22]. Trong lý thuyết chung về hệ thống, môi trường là một phức hợp của các yếu tố bên ngoài tác động lên hệ thống và xác định quá trình cũng như cách thức tồn tại của chúng.
Một môi trường có thể được coi là một tập hợp siêu trong đó hệ thống đã cho là một tập hợp con. Nó có thể bao gồm một hoặc nhiều tham số, bản chất vật lý hoặc bản chất khác. Bầu không khí của một hệ thống nhất định phải tương tác với các sinh vật sống. Môi trường không phải là bất cứ thứ gì khác ngoài trái đất, chính xác là nơi hoặc không gian mà các quá trình khác nhau liên quan đến sự sống được thực hiện.
Cuộc sống này có thể rất khác nếu nó không chỉ tính đến con người mà còn cả động vật và thực vật. Mỗi môi trường được đặc trưng bởi những yếu tố đặc biệt làm cho nó trở nên đặc biệt và khác biệt so với những môi trường còn lại, vì vậy không thể 10 nói về một môi trường công bằng. Để hiểu rõ hơn về thành phần của môi trường, cần nói đến ba cấp độ: vật lý, sinh học và, nếu cần, kinh tế xã hội. Đầu tiên, chúng tôi đề cập đến mọi thứ liên quan đến địa lí, khí hậu, địa chất.
Những yếu tố này tạo thành nền tảng mà trên đó tất cả các dạng sống sẽ được thiết lập. Do đó, bản vẽ sinh học bao gồm dân số con người cũng như các loài động thực vật chiếm không gian này. Cuối cùng, môi trường kinh tế - xã hội là nói đến hoạt động của con người và ảnh hưởng của nó đối với môi trường. Vấn đề lớn nhất của môi trường ngày nay là một vấn đề liên quan đến những thiệt hại mà con người đã gây ra cho mình trong những thế kỷ gần đây.
Theo nghĩa này, chúng ta phải nói rằng môi trường có thể xuất hiện những thay đổi hoặc xáo trộn tự nhiên liên quan đến không gian vật chất hoặc thậm chí là hành động của các loài động thực vật khác nhau (chẳng hạn như khi tạo ra hiện tượng được gọi là bệnh dịch hạch). Những năm gần đây, khái niệm MT được mở rộng hơn, đó là khái niệm “MT và phát triển bền vững”. Khái niệm này nhấn mạnh đến việc giải quyết mâu thuẫn để việc tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội không làm tổn hại đến môi trường sống của con người, sao cho đạt tới sự hài hòa lâu dài, bền vững giữa phát triển sản xuất và MT. Từ những phân tích trên, khái niệm MT trong luận văn này được hiểu như sau: “MT là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội do con người tạo ra, chúng có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người và ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
Khái niệm bảo vệ môi trường Khái niệm “Bảo vệ môi trường” chỉ mới được sử dụng ở những năm đầu của thế kỉ XX. Khái niệm này lần đầu tiên được trình bày (năm 1913) như sau: “BVMT (Bảo vệ môi trường) là ý muốn chung hướng tới việc bảo tồn những di sản của thiên nhiên và việc chăm sóc chúng” [16]. Về sau, nội dung của khái niệm này được mở rộng và được cụ thể hóa thêm. Bảo vệ MT không chỉ là sự bảo tồn những đối tượng hiếm, đặc hữu của tự nhiên để chúng khỏi bị tiêu diệt, mà còn là việc sử dụng một cách hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống khỏi bị ô nhiễm, giữ gìn, bảo tồn và làm giàu thêm các tài nguyên thiên nhiên, cũng như giữ 11 gìn và bảo tồn các phong cảnh, các di tích lịch sử, di tích văn hóa của dân tộc và nhân loại.
Khái niệm bảo vệ MT ở đây bao hàm cả khái niệm bảo vệ tự nhiên. Trong khái niệm MT có cả MT tự nhiên và MT nhân tạo, đó là môi trường sống, lao động, nghỉ ngơi và giải trí của con người. Ngày nay, với sự bùng nổ dân số, nhu cầu khai thác các nguồn tài nguyên ngày càng lớn, cùng với sự tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, do vậy, bảo vệ MT cũng mang một nội dung hoàn toàn mới, bao gồm: Chống ô nhiễm và suy thoái MT. Sự ô nhiễm MT do các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra đang ngày càng trầm trọng.
Sự ô nhiễm nặng làm cho MT bị suy thoái, bị phá hủy, đồng thời gây tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe và sự phát triển của con người và sinh vật. Bảo vệ tính đa dạng sinh học và vốn gen di truyền quý hiếm của các loài động vật và thực vật. Nghiên cứu cách phòng chống và dự báo các sự cố MT như: lũ, lụt, hạn hán, động đất, núi lửa, sóng thần; tai nạn trong giao thông, trong xây dựng. Tóm lại, bảo vệ MT là ý muốn chung hướng tới việc sử dụng hợp lý có cải tạo và phục hồi các nguồn tài nguyên trong thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, phòng chống sự suy thoái và ô nhiễm MT.
Giáo dục bảo vệ môi trường là hoạt động giáo dục nhằm trang bị cho người học những kiến thức và hiểu biết thiết yếu về khoa học môi trường trong mối quan hệ với các vấn đề xã hội, văn hóa, và kinh tế. Mục đích của cách tiếp cận này là giúp cho người học có thông tin đầy đủ và đưa ra được những quyết định hợp lý về cách ứng xử với môi trường. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường Ý thức là sự nhận biết về sự tồn tại của bản thân, về vai trò bổn phận và kỷ luật của mình với gia đình với xã hội, nhận biết những việc mình làm, những mối quan hệ xung quanh mình, để có kỷ luật với những gì mình đang đảm nhận, có kỷ luật với vai trò của bản thân. Ý thức chính là sự nhận thức (nhận biết một cách có ý thức) về kỷ luật của mình dựa trên lòng tự trọng hoặc dựa trên lợi ích của bản thân, ra quyết định nhận kỷ luật đó một cách có ý thức.
12 Có thể thấy rằng, quá trình giáo dục môi trường và quá trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho HS là một quá trình giáo dục bao gồm nhiều các thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức. Các thành tố đều có mối quan hệ mật thiết và có tính biện chứng với nhau, đặc biệt là phương pháp giáo dục để thực hiện mục tiêu giáo dục, mục đích của quá trình sư phạm. Như vậy, theo chúng tôi giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là quá trình dưới sự tổ chức, lãnh đạo có mục đích của giáo viên làm chuyển hóa nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin, ý chí, quyết tâm bảo vệ môi trường sống được xanh, sạch, đẹp của học sinh. Đặc điểm của học sinh cuối tiểu học Lứa tuổi HS tiểu học là lứa tuổi nền tảng cho sự phát triển của mỗi cá nhân, do vậy giáo dục trong giai đoạn này cần được đặc biệt chú trọng.
Bên cạnh việc trang bị các kiến thức cơ bản qua hoạt động học tập, lao động trên trường lớp, việc được tiếp xúc và học hỏi các kỹ năng mềm phù hợp là cần thiết để HS tiểu học có được sự phát triển nhân cách toàn diện cũng như thích nghi tốt với sự thay đổi môi trường. Đặc trưng nổi bật trong hoạt động nhận thức của trẻ em tuổi nhi đồng là khả năng tổ chức và kiểm soát các hành động nhận thức một cách có ý thức. Trước tuổi học đường các hành động nhận thức của trẻ em đã phát triển và đạt đến mức độ tinh tế nhất định. Tuy nhiên, do tính chủ định trong nhận thức chưa phát triển, nên khả năng phối hợp, huy động, tổ chức các hành động vào giải quyết nhiệm vụ và kiểm soát các hành động một cách có ý thức còn hạn chế.
Chẳng hạn, nếu yêu cầu trẻ em đầu lớp 1 quan sát bình hoa và vẽ lên giấy. Các em thường quan sát rất nhanh, gọi tên nó và ngay lập tức chăm chú vẽ lọ hoa theo các biểu tượng riêng của mình, mà lãng quên nhiệm vụ chính là phải tổ chức quan sát, phân tích màu sắc, hình dáng, kích thước lọ hoa để vẽ giống như thật. Nhìn chung, nhận thức và hành động của em tiểu học đường còn mang tính ngẫu hứng và chịu sự chi phối của các hình ảnh tri giác và các biểu tượng đã có. Trong giai đoạn tiểu học , dưới tác dộng của hoạt dọng học, nhận thức của học sinh tiểu học đã có bước phát triển mới.
Trẻ đã biêt tổ chức các hành động nhận thức của mình một cách có ý thức nhằm thực hiện các nhiệm vụ nhận thức (nhiệm vụ học). Sở dĩ các em học sinh lưa tuổi tiểu học có khả năng này vì trong hoạt động nhận 13 thức của các em, thành phần chủ định ngày càng phát triển và chiếm ưu thế. Những năm tiểu học, trẻ em hoàn thiện ngôn ngữ nói của mình. Điều này được thể hiện qua hai phương diện dễ nhận thấy: Khắc phục ngôn ngữ tự kỉ trung tâm, hình thành ngôn ngữ bên trong; sự hoàn thiện ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Các nhà tâm lí đã chỉ ra rằng,hứng thú của HS tiểu học ngày càng bộ lộ và phát triển rõ rệt hơn, đặc biệt là hứng thú nhận thức và tìm hiểu thế giới xung quanh.