CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đề tài 1. Các nghiên cứu nước ngoài Ở Singapore, chính phủ coi nhiệm vụ bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Vì thế, họ đã đưa GDMT vào chương trình giáo dục ở các cấp học.
Ngoài các giờ học chính khóa, giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia các HĐTN qua các chuyến tham quan dã ngoại, tham quan khu bảo tồn thiên nhiên, v. việc tích hợp cũng được thực hiện tại đất nước này, với phương châm GDMT là một quá trình suốt đời với mục đích thu thập kiến thức và hành động vì môi trường (Joy A. Ở Bungari, cấu tạo chương trình khoa học ở cấp tiểu học và sinh học ở cấp THCS, THPT theo tư tưởng chủ đạo “Con người và môi trường”. Chương trình cấp Tiểu học có môn học “Kiến thức về môi trường” cung cấp cho học sinh những nội dung đơn giản nhưng rất cơ bản về môi trường xung quanh như nhà trường, làng mạc, thôn xóm, địa phương, đường sá, giao thông, vườn cây, rừng, nước, lửa, động vật có ích, có hại v.
Chương trình môn học dành cho học sinh học cấp THCS biên soạn theo quan điểm “Tìm hiểu môi trường từ gần tới xa” như môi trường thôn xóm, môi trường rừng, các cây nông nghiệp, sinh vật đồng ruộng (Đậu Thị Hòa, 1999). Do thấy được sự cần thiết phải xây dựng một xã hội bền vững nên ngay từ thập kỷ 70, GDMT đã được đưa vào hệ thống giáo dục ở nhiều quốc gia như Mỹ, Mêhicô, Liên Xô cũ. Những chủ đề môi trường được lồng ghép vào các môn học có liên quan đến môi trường như: sinh học, địa lý, hóa học, giáo dục công dân, đạo đức, thẩm mỹ, v. Hiện nay, GDMT được một số nước đưa vào giảng -9- dạy như một môn học chính khóa, một số nước khác thì dạy theo kiểu tích hợp, lồng ghép vào các môn học.
Ở Nhật Bản, trong suốt thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao (những năm 1960) GDMT ở các cấp học nói chung và GDMT cho học sinh trung học cơ sở nói riêng được bắt đầu bằng việc giáo dục chống ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường tự nhiên. Đến nửa cuối những năm 1980, người Nhật bắt đầu ý thức được tầm quan trọng của các vấn đề môi trường đối với cuộc sống của con người. Họ bắt đầu thực sự quan tâm tới bảo vệ môi trường và lúc này GDMT mới thực sự có chỗ đứng trong nền giáo dục Nhật Bản. GDMT được lồng ghép vào các môn học như Khoa học, Địa lý, Sinh học, v.
Đồng thời, các chương trình trải nghiệm khác như phong trào sử dụng giấy tái chế, phong trào tiêu thụ xanh v. được đưa vào thực hiện ở các trường học. Giáo dục lý thuyết kết hợp với hoạt động thực tiễn cho học sinh là một trong những phương pháp giáo dục có hiệu quả tại Nhật Bản (Phạm Viết Vượng, 2008). Tại bang California – nước Mỹ, phương pháp giáo dục ngoài trời rất được khuyến khích, đặc biệt là lồng ghép GDMT.
Học sinh sẽ được tham gia các bài học về khoa học và thiên nhiên qua tiếp xúc trực tiếp với thế giới động vật và môi trường. Học sinh được giáo dục tại sao phải bảo vệ giống loài, các loài động vật có ý nghĩa gì đối với đời sống con người, cũng như được hướng dẫn kỹ năng chăm sóc và bảo vệ chúng. Những địa điểm công cộng luôn được giữ gìn sạch sẽ, cộng đồng tình nguyện bảo vệ môi trường chung. Ý thức và hành vi giữ gìn môi trường của người dân là kết quả của việc quan tâm GDMT cho học sinh ngay từ bậc học mầm non (Nguyễn Thị Ngọc, 2009).
Như vậy, qua nghiên cứu GDMT ở 4 nước Singapore, Bungari, Nhật Bản, Mỹ đã cho thấy các nước đưa nội dung GDMT vào tất cả các cấp học bằng nhiều hình thức giáo dục khác nhau, tùy vào điều kiện, tình hình kinh tế - chính trị, xã hội, văn hóa ở mỗi đất nước. Bên cạnh đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu giáo dục môi trường trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ ngày 9-10/9/2015, tại Kuala Lumpur (Malaysia) đã diễn ra Hội nghị các quan chức cao cấp về môi trường ASEAN lần thứ 26. Tại Hội nghị, các đại biểu đã -10- rà soát việc triển khai các hoạt động hợp tác ASEAN về môi trường trong năm 2015 và phương hướng hoạt động trong thời gian tới.
Hội nghị tập trung vào các nội dung chính: Bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý tài nguyên nước, môi trường biển và đới bờ, GDMT, biến đổi khí hậu, quản lý hóa chất và chất thải, thành phố bền vững về môi trường, ô nhiễm khói mù xuyên biên giới, công nghệ thân thiện môi trường, sản xuất và tiêu thụ bền vững (Hồng Nhung, 2015). Tóm lại, mặc dù trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về GDMT nhưng mục đích chung là đề ra những biện pháp nhằm giúp con người nhìn nhận vai trò quan trọng của môi trường đối với con người và con người cần có những hành vi ứng xử phù hợp với môi trường. Các nghiên cứu ở Việt Nam Vấn đề môi trường không còn là trách nhiệm riêng của một cá nhân hay một tổ chức nào mà là vấn đề chung của toàn xã hội. Do đó, vấn đề môi trường được không ít các nhà khoa học quan tâm.
Công trình nghiên cứu của Lê Văn Khoa, Nguyễn Đình Hòe đã nêu ra những nội dung lí luận cơ bản về môi trường (khái niệm môi trường, các thành phần của môi trường, phân loại môi trường và các chức năng của môi trường v. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu còn đánh giá thực trạng về môi trường, đề xuất các biện pháp nhằm cải tạo và giữ gìn môi trường. Bên cạnh đó, công trình cũng nêu ra những hạn chế, những tác động tiêu cực của con người đối với môi trường cũng sẽ tác động ngược lại cuộc sống của con người (Lê Văn Khoa, 2000), (Nguyễn Đình Hòe, 2007). Nghiên cứu biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS trên địa bàn quận Tân Bình, TP.HCM, luận văn thạc sỹ của tác giả Đỗ Thị Hồng đã xác định thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường tại quận Tân Bình và đề xuất biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, gồm: Tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường từ các bộ môn vào các chủ đề của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; Tổ chức các hình thức GDMT phong phú, đa dạng, có nội dung liên quan đến GDMT; Tăng cường các điều kiện để tổ chức các hoạt động GDMT: bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng GDMT cho lực lượng giáo viên; phát huy tối đa tác dụng của các phương tiện dạy -11- học hiện đại.
Đề tài nghiên cứu việc tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường vào các chủ đề của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động thực tiễn liên quan đến GDMT. GDMT cần tiến hành với sự tham gia của nhiều lực lượng giáo dục và bằng nhiều con đường như hoạt động dạy học, HĐTN (Đỗ Thị Hồng, 2002). Trái đất đã từng là cái nôi yên lành cho muôn loài sinh sống và phát triển trong sự cân bằng theo những qui luật tự nhiên của vũ trụ. Ngày nay, trái đất đã mất đi sự an lành vốn có, môi trường đã bị con người tàn phá, hủy hoại nặng nề, gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho chính đời sống của con người nói riêng và vạn vật xung quanh nói chung.
Vì vậy, bảo vệ môi trường, giữ lấy trái đất là nhiệm vụ chung của tất cả các quốc gia trên thế giới, là trách nhiệm của mọi tổ chức xã hội và là nghĩa vụ của từng thành viên cộng đồng (Đặng Đình Bạch, 2006). Nghiên cứu cách thức xây dựng và lồng ghép nội dung GDMT vào chương trình đào tạo cho học sinh tại trường Tiểu học Quốc tế Olympia – Khu đô thị Trung Văn – Hà Nội, Đặng Thị Hồng Nhung đã đề xuất các phương pháp, nội dung GDMT và tạo được không khí học tập tích cực, sôi nổi, gây hứng thú cho học sinh thông qua các hoạt động học mà chơi – chơi mà học. Kết quả thực nghiệm của đề tài cho thấy học sinh có chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường; có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, nhận biết và phân loại được các loại rác thải; sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; tham gia trồng và chăm sóc cây xanh; nhận biết các hành vi bảo vệ môi trường hay phá hoại môi trường (Vũ Thị Nho, 2008). Đứng trước trách nhiệm trên, cả thế giới đã có nhiều nỗ lực để chung tay góp sức bảo vệ môi trường.
Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và con người họp lần đầu ở Stockholm (1972), đã thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường; thành lập chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc; xác định cần GDMT cho thế hệ trẻ cũng như người lớn trách nhiệm bảo vệ môi trường. Sự kiện này cũng đánh dấu sự ra đời Ngày Môi trường Thế giới (5/6) và tổ chức Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) cũng ra đời. Mục đích là đưa ra những đường lối có tính chỉ đạo và các chương trình hành động toàn cầu nhằm nâng cao -12- chất lượng cuộc sống mà không gây tổn hại cho thế hệ tương lai (Ngô Thị Tuyên - Chủ biên, 2009). Trong luận văn thạc sĩ nghiên cứu GDMT cho học sinh THCS tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, tác giả Lê Na đã khảo sát thực trạng GDMT cho học sinh THCS tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
Đề tài đề xuất 6 biện pháp nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh: Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong GDMT; Phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong dân cư; Đề ra hình phạt hợp lý khi học sinh có hành vi chưa tốt đối với môi trường; Tăng cường sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và kinh phí tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường; Cải tiến phương thức GDMT trong chương trình chính khóa; Tăng cường HĐTN trong GDMT. Các biện pháp GDMT được đề xuất trên mang tính khoa học, khả thi và đạt được kết quả khả quan. Học sinh đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức, thái độ và hành vi đối với môi trường.