Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về quản lý đất rừng phòng hộ, pháp luật về quản lý đất rừng phòng hộ Ở Việt Nam, “đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” [99]. Nhưng Nhà nước không trực tiếp sử dụng mà giao cho các cá nhân, tổ chức và cộng đồng thông qua việc xác lập mối quan hệ giữa nhà nước và người sử dụng bằng pháp luật.
Vì thế, trong công tác quản lý nhà nước về đất rừng phòng hộ, việc xác lập chế độ sở hữu, quyền sử dụng rừng, đất rừng giữ vai trò hết sức quan trọng. Bởi, chế độ sở hữu không những bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu mà còn bao gồm các yếu tố pháp lý khác tác động đến cơ chế vận hành của quan hệ sở hữu, từ đó là cơ sở để hoạt động quản lý đất rừng nói chung, đất rừng phòng hộ nói riêng một cách hiệu quả. Liên quan tới việc nghiên cứu về chế độ sở hữu đất đai, đất rừng có các công trình sau: “Những vấn đề sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Vũ Văn Phúc (2013) [85], đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Chế định sở hữu đất đai và việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu đất đai ở Việt Nam hiện nay – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Đinh Xuân Thảo (2013) [120], “Chế độ pháp lý về sở hữu và quyền tài sản đối với đất đai” của tác giả Phạm Văn Võ (2012) [154], “Vai trò của nhà nước trong việc thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai” của tác giả Phạm Hữu Nghị (2005) [79], “Sở hữu đất đai ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Nga (2018) [76]. Qua các nghiên cứu nêu trên, các nhà khoa học đã đưa ra các hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và hình thức đa sở hữu, đồng thời có phân tích, đánh giá, so sánh các hình thức sở hữu về đất đai với nhau.
Tại Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, chế định này sẽ quyết định chủ thể trong quan hệ pháp luật về quản lý đất rừng phòng hộ và sự chi phối của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đối với 9 cách thức tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng rừng phòng hộ. Từ quy hoạch chiến lược tổng thể bảo vệ và phát triển vốn rừng; đến kế hoạch cụ thể để cải tạo, tu bổ và phát triển rừng phòng hộ; sự phân cấp, phân quyền trong tổ chức quản lý, khai thác và bảo vệ rừng; quyết định các nguồn lực cho hoạt động quản lý đối với rừng phòng hộ… Các công trình nghiên cứu về lý luận liên quan đến quản lý đất đai, quản lý đất rừng phòng hộ và pháp luật về quản lý đất rừng phòng hộ tương đối phong phú và đa dạng, các tác giả đã nghiên cứu vấn đề với nhiều cách tiếp cận và góc độ khác nhau để làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, khung pháp lý trong hoạt động quản lý đất đai, quản lý đất rừng phòng hộ và pháp luật về quản lý đất rừng phòng hộ. Nghiên cứu về lý luận quản lý đất đai có các công trình sau: Bài viết “Quản lý đất đai, địa giới hành chính và xây dựng ở cơ sở” của tác giả Trần Thị Cúc, Giáo trình Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính, Những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước, tr. Các tác giả đã đưa ra lý luận cơ bản về khái niệm, đặc điểm, vai trò, phương pháp, nguyên tắc và công cụ quản lý nhà nước về đất đai.
Các nội dung này là cơ sở, nền tảng để nghiên cứu lý luận về pháp luật quản lý đất rừng phòng hộ. Đặc biệt, các nghiên cứu về khách thể, đối tượng và phương pháp chung trong quản lý nhà nước là cơ sở cho việc tiếp cận khách thể, đối tượng và phương pháp quản lý nhà nước đối với rừng phòng hộ. Theo đó, trên cơ sở nền tảng mang tính nguyên tắc của quản lý nhà nước nói chung, nội dung mà luận án nghiên cứu có tính đặc thù gì. Nhận diện đối tượng quản lý là đất rừng phòng hộ với các đặc tính khác biệt đối với các loại đất rừng khác như rừng đặc dụng, rừng sản xuất và càng khác biệt hơn đối với các loại đất khác trong nhóm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp.
Từ đó, giúp cho tác giả nhận diện, đánh giá được sự chi phối và các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Trên cơ sở đó, nhận diện được phương pháp quản lý mang yếu tố đặc thù đối với rừng phòng hộ. 10 Các nghiên cứu trên cũng cho tác giả nhận thức được rằng, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước trong lĩnh vực đất đai nói chung và đất rừng phòng hộ nói riêng là tất yếu khách quan đặt ra. Đây là yếu tố chủ đạo, then chốt trong quản lý nhà nước về đất rừng phòng hộ bên cạnh các vấn đề hoàn thiện pháp luật về quản lý và sử dụng đối với loại đất này.
Các công trình nghiên cứu về quản lý đất rừng và quản lý rừng có các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả như: tác giả Huỳnh Văn Chung (2018) với “Nghiên cứu cơ sở khoa học để phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ đầu nguồn lưu vực sông Pô Kô, tỉnh Kon Tum” [50], tác giả Nguyễn Tuấn Hưng (2014) với “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc quản lý rừng bền vững tại công ty Lâm nghiệp Đắc Tô và vùng Tây Nguyên” [67], tác giả Hoàng Vy Tin (2015) với “Quản lý nhà nước về sử dụng đất rừng trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam” [106], tác giả Lưu Văn Năng (2013) với “Nghiên cứu biến động sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp nhằm quản lý sử dụng đất bền vững khu vực Tây Nguyên” [75], tác giả Nguyễn Huy Hoàng (2009) [59] với “Các giải pháp quản lý hành chính nhà nước nhằm bảo vệ và phát triển bền vững rừng Tây Nguyên”, tác giả Phạm Thu Thủy và cộng sự (2020) [131] với “Tổng quan hệ thống chính sách và hướng dẫn phân loại rừng quốc tế”. Các nghiên cứu trên đã đưa ra tổng quan lý luận về công tác quản lý đất rừng và quản lý rừng bền vững theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Từ đó, giúp tác giả đánh giá và nhận diện được những tồn tại bất cập trong công tác quản lý đất rừng phòng hộ hiện nay để kiến nghị những phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý đất rừng phòng hộ trong thời gian tới. Từ các nghiên cứu này, tác giả nhận thức được rằng, quản lý nhà nước đối với rừng phòng hộ là sự tích hợp của nhiều cách thức và biện pháp khác nhau; tổng hợp từ nhiều nguồn lực khác nhau và có tính chất lan tỏa ở phạm vi rộng hơn ra khỏi vùng, miền, khu vực, trong nước và quốc tế.
Sự chi phối bởi các yếu tố kinh tế, khoa học, kỹ thuật, cùng với sự đa dạng bởi các phương thức quản lý và sự hợp tác quốc tế chặt chẽ về vấn đề môi trường là yếu tố quan trọng, quyết định tới hiệu quả của quản lý nhà nước đối với rừng phòng hộ. Nghiên cứu pháp luật về quản lý đất đai, quản lý đất rừng có các công trình nghiên cứu như sau: tác giả Lưu Quốc Thái (chủ biên) (2013) với “Giáo trình Luật Đất 11 đai” của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh [113], tác giả Trần Quang Huy (2020) với bài viết “ Các vấn đề lý luận cơ bản về ngành Luật Đất đai” trong Giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội [63], tác giả Nguyễn Đình Bồng (chủ biên) (2014) với bài viết “Mô hình quản lý đất đai hiện đại ở một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam” [30], tác giả Nguyễn Đình Kháng (2006) với bài viết “Lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ruộng đất và vận dụng nó vào hoàn thiện Luật Đất đai Việt Nam” [69], tác giả Phạm Văn Linh (2022) với bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai ở Việt Nam hiện nay” trong Tạp chí cộng sản [71], tác giả Phạm Phương Nam, Phạm Thanh Quế, Nguyễn Thanh Trà và cộng sự (2014) với bài viết “Một số quy định về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp hiện hành tại Việt Nam” [74], tác giả Đặng Thị Phượng (2019) với bài viết “Vai trò của khoa học xã hội, hoạch định chính sách, quản lý và sử dụng đất đai” [86]. Các nghiên cứu đã tổng hợp, khái quát lý luận pháp luật về quản lý đất đai, quản lý đất rừng; trong đó khẳng định luận điểm muốn chấm dứt nạn phá rừng và sử dụng rừng bền vững cần tập trung đánh giá các thể chế luật, chính sách và quy trình chi phối quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, bảo vệ và chuyển đổi rừng để xây dựng khung pháp lý, hoàn thiện các chính sách nhằm đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của các chính sách. Các nghiên cứu này cũng cho nghiên cứu sinh nhận thức được rằng, quản lý nhà nước về đất rừng phòng hộ không chỉ là công việc của Nhà nước, của các cấp, các ngành, ở trung ương và địa phương, mà cần phải có sự tham gia của cộng đồng người dân, của tất cả các thành phần kinh tế.
Tăng cường sự giám sát của đông đảo các đối tượng xã hội trong lĩnh vực này vì một thế giới xanh và phát triển bền vững, không chỉ cho thế hệ hiện tại mà giữ gìn và nhân rộng cho thế hệ tương lai một môi trường trong lành là điều cần phải làm không chỉ trên văn bản pháp lý mà phải trở thành mục tiêu, hành động cụ thể và triển khai rộng khắp trong phạm vi cả nước và ở từng địa phương. Theo đó, cần phải đảm bảo rằng pháp luật phải được “thích ứng” và “địa phương hóa” một cách có hiệu quả; cần xây dựng mối quan hệ tốt giữa người dân và chính quyền các cấp.