Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Công tác quản lý hoạt động day nghề phổ thông trên thế giới Trên phạm vi thế giới hoạt động giáo dục lao động - kĩ thuật tông hợp - hướng nghiệp và dạy nghề phô thông xuất hiện từ khoảng hơn một trăm năm trước. Năm 1848, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mang kĩ thuật khiến cho nhiều ngành nghề mới xuất hiện.
Trước tình hình đỏ những người thực hiện công tác hướng nghiệp tại Pháp đã cho ra đời cuốn sách “Huong dẫn chọn nghề” Cuốn sách dé cập tới van đẻ phát triển đa dang của nghé nghiệp do sự phát triển của công nghiệp va việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghé nghiệp phù hợp với khả năng của ban thân và nhu cầu của xã hội. Đền dau thé ki XX van dé giáo dục lao động — kĩ thuật tổng hợp — hướng nghiệp và day nghề phô thông được đặt ra một cách rộng rai và cấp thiết ở nhiều nước trên thể giới. Họ nhận thấy rằng để có thể tuyển chọn những người lao động vào các nhà máy. xí nghiệp rất cần thiết phải đưa hoạt động giáo dục lao động — kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông vào trường phd thông.
Đồng thời các phòng hướng nghiệp với chức năng tư van chọn nghề đã được thành lập ở nhiều nước như: Anh, Pháp, Mỹ.Thực tế khi đưa hoạt động giáo dục lao động — kĩ thuật tông hợp — hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông vào các trường học đã mang lại nhiều hiệu quá thiết thực cho việc phát triển tài năng và nhân cách cá nhân, góp phan nâng cao năng suất lao động xã hội. Đặc biệt qua hoạt động DNPT đã trang bị cho thanh niên những ki nang nghẻ nghiệp nhất định. Nó giúp họ sau khi rời trường học có thẻ tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất xã hội với nghề phổ thông đã có. Hoặc họ có thé học lên cao hay lựa chọn một ngành nghé khác dé học cũng thuận lợi hơn.
Đến nay, trong xu hướng hội nhập quốc tế và phát triển mạnh mẽ của kĩ thuật trên toàn thể giới làm xuất hiện hàng loạt các ngành, nghề mới thì hoạt động giáo dục lao động - kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp va dạy nghẻ phổ thông ngày cảng được các quốc gia quan tâm. Và hoạt động này được đánh giá là một bộ phận thiết yếu của nén giáo dục hiện đại trên thế giới. Công tác quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Việt Nam Thông tư số 31/TT ngày 17/11/1981 của Bộ Giáo dục và Đảo tạo đã chỉ rõ dạy nghề phổ thông là một trong 4 con đường hướng nghiệp cơ bản.Tuy nhiên, tùy vào điều kiện riêng mà mỗi nhà trường lựa chọn cho mình một con đường chủ đạo để con đường DNPT đạt được hiệu quả cao nhất. Trong những năm qua đã có một số dé tài nghiên cứu về công tác DNPT như: + Dé tài "Nghiên cứu xây dựng chương trình dạy nghệ ở trường phô thông của thành phố Hô Chí Minh" (Chủ nhiệm dé tài: Nhà giáo wu tú Chu Xuân Thành, nguyên trường phòng giáo dục phổ thông.
Sở Giáo duc và Đào tạo TP HCM). Tác giả đề tài đã nghiên cứu thực trạng việc DNPT cho HS theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở TPHCM. Các tác giả đã xây dựng một chương trình nghẻ gồm 3 nhóm nghè: a/ Kĩ thuật công nghệ, thù công: Mộc, nguội, gò hàn, tiện kim loại, điện gia dụng, điện tử, sửa xe. b/ Kĩ thuật nông nghiệp: Trồng trọt và chăn nuôi.
c/ Kĩ thuật phục vụ: Dinh dưỡng, may, thêu, đánh máy chữ, nhiếp anh. Chương trình đã được biên soạn sau khi nghiệm thu các chương trinh được áp dụng tại các Trung tâm kĩ thuật tong hợp — hướng nghiệp — dạy nghẻ ở tat cả các quận huyện và 57 trường THPT cỏ học sinh theo học nghe phô thông. + Dé tài "Hiệu trưởng quan lý công tác dạy nghệ tại trường THCS An Nhơn - Gò lấp thành phó Hồ Chi Minh” của tác giả Hồ Thị Thu Liên. Đề tài đã nêu lên yêu cau của công tac DN, rút ra bài học kinh nghiệm, tìm nguyên nhan của những hạn chế đồng thời đẻ xuất một số biện pháp trong công tác chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả quan lý hoạt động DN tại trường THCS An Nhơn — Gò Vấp.
+ Đề tài “Thue trang và các giải pháp quan lý việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghé ở một số trưởng Trung học cơ sở tại thành phô Hô Chí Minh”, luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục của tác giả Phạm Thị Kim Thư. Bước đầu tác giả đề xuất được 5 giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu qua quản ly hoạt động DNPT của Hiệu trưởng tại các trường THCS tại TP HCM. Đồng thời dé tài còn nêu bật được nhiệm vụ của Hiệu trưởng trong trường THCS khi quản lý công tác giáo dục lao động — kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghè. Tuy nhiên, đến nay có rất ít tác giả đi sâu nghiên cứu hoạt động DNPT cho HS trong các trường THPT.
Đây chính là khó khăn khách quan trong quá trình tiếp cận vấn đề nghiên cứu của tác giả. Một số khái niệm 1. Khái niệm quan lý Quản lý có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động của xã hội. Đó chính là điều kiện cơ bản, thiết yếu của sự vận hành và phát triển xã hội.
Các Mác đã khẳng định: Tất ca mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung được thực hiện ở quy mô tương đổi lớn déu can đến những mức độ nhiều hay ít cua sự quan lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cả nhản và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thé sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập cia nó. Một người chơi vĩ cảm riêng lẻ tự mình điều khiển, còn dàn nhạc thì can người chỉ huy.39] Quản lý là một hoạt động mang tính xã hội, lịch sử nó gắn với hoạt động của con người. đặc biệt là hoạt động lao động rat đa dạng và phức tạp. Vì vậy từ nhiều góc độ khác nhau.
các nha nghiên cứu lý luận đã đưa ra những khải niệm vẻ quản lý: Theo Từ điển Tiếng Việt căn bản thì quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan. Taylor: * Quan lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, va sau đó hiểu được rang họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất". 89] Theo Harold Koontz: “Quan lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phổi hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục dich của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc.
vật chất và sự bất man của cá nhân it nhất”.33] Theo các nhà Tâm lý học: “Quan ly là hoạt động đặc biệt của con người trong xã hội, một hoạt động rất phức tạp và đa dạng. Đó là sự tác động toàn diện vào một nhóm người, một tập thé người, điều khiển họ hoạt động nhằm đạt tới mục đích nhất định đã được dé ra từ trước". 39] Từ những khái niệm nêu trên chúng ta thấy rằng nhìn từ góc độ nao thi quản lý cũng là những tác động có định hướng. có hướng địch của chủ thé quan 10 lý nhằm tô chức, điều khiển, làm cho hệ thống chuyển động biển đổi phù hợp với quy luật khách quan.
đạt được các mục tiêu mà chủ thê quản lý đã xác định. Qua cách hiểu trên và cụ thê hơn là theo lý luận vẻ quản lý hành chỉnh nhả nước. hoạt động quản lý có sự hiện điện của các yếu tó: - Chú thé quản lý: La tác nhân tạo ra các hoạt động quản lý. Chủ thẻ luôn 1a con người hoặc tổ chức.
Chủ thẻ quan lý tác động lên đối tượng quan lý bang các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. - Đối tượng quan lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thé quản lý. Tùy theo tửng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. - Khách thé quản ly: Chịu sự tác động hay nhiều sự điều chỉnh từ chủ thé quan ly, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội.
- Mục tiêu quản lý: La cái đích can đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thé quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quan lý thích hợp. [10] Khi xem xét hoạt động quản lý trong mối quan hệ giữa chủ thé quan lý và khách thé quản ly, chúng ta có thé mô hình hóa hoạt động quản lý như sau: 1. Khái niệm quan lý giáo duc Khái niệm quản lý GD được tiếp cận theo nhiều quan niệm khác nhau.Khuđôminxky: “Quan lý GD là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý, ở các cấp độ khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thông nhằm mục đích đảm bảo việc GD Cộng sản chủ nghĩa cho thé hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện va hài hòa của ho”.
- Quan ly GD là hệ thống những tác động tự giác của chủ thé quan lý đến tập thê giáo viên, công nhân viên, tập thé HS, CMHS và các lực lượng xã hội trong va ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nha trường. Khái niệm quản lý GD còn được tiếp cận theo phạm vi: Cap độ vĩ mô va cấp độ vi mô: Đối với cap vĩ mô: Quản lý GD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thé quan lý đến tat cả các mắt xích của hệ thông (từ cap cao nhất đến các cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả các mục tiêu phát triển GD, đào tạo thé hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD.