phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cải tiến công tác thanh tra của Tổng cục dạy nghề với hoạt động chuyên môn của các trường dạy nghề. Chƣơng 2: Thực trạng công tác thanh tra hoạt động chuyên môn ở các trường dạy nghề TP Hà Nội (cũ). Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp cải tiến công tác thanh tra của Tổng cục dạy nghề đối với hoạt động chuyên môn của các trường dạy nghề. 4 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI TIẾN CÔNG TÁC THANH TRA HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN CỦA CÁC TRƢỜNG DẠY NGHỀ 1.
Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngày 29/10/1988, Bộ giáo dục (Nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã ban hành Quyết định số 1019/QĐ, quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống Thanh tra giáo dục. Ngày 28/09/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 358/HĐBT quy định về tổ chức hoạt động của Thanh tra giáo dục. Sau đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 478/QĐ ngày 11/03/1993 quy định về quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục và đào tạo. Tháng 12/1998, Luật Giáo dục nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được ban hành, tại mục 4 chương 7 từ Điều 98 đến Điều 103 đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của thanh tra giáo dục và đối tượng thanh tra.
Từ trước đến nay đã có một số tác giả bàn về vấn đề thanh tra, kiểm tra giáo dục nói chung và công tác thanh tra chuyên môn của các trường Phổ thông và các trường Giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Tác giả Đặng Quốc Bảo xác định: Quản lý giáo dục có 04 chức năng cụ thể: Kế hoạch hóa, chỉ huy, điều hành, kiểm tra. Trong đó, “kiểm tra là công việc gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục tiêu” [4, tr. Một số Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành giáo dục, các đề tài về thanh tra giáo dục trong các lớp huấn luyện cán bộ thanh tra của một số tác giả cũng đề cập đến vấn đề thanh tra, kiểm tra, bồi dưỡng đội ngũ thanh tra và đề cập sâu vào việc thanh tra một cấp học cụ thể như Luận văn của tác giả Lê Văn Vương (ĐHSP Hà Nội 2005) nghiên cứu về phát triển đội ngũ thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra cấp THPT.
Luận văn của tác giả Trần Thị Vân (ĐHSP 2004) nghiên cứu phát triển đội ngũ thanh tra cấp THCS quận Tây Hồ, Hà Nội. Các đề tài nêu trên đã đề cập đến các vấn đề chung của công tác thanh tra chuyên môn, chủ yếu là khía cạnh thanh tra đánh giá công tác giáo viên, thanh tra hoạt động của nhà trường. và là những tài liệu có giá trị bổ ích. 5 z Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể về công tác thanh tra chuyên môn trong các trường dạy nghề.
Do đó, cải tiến công tác thanh tra chuyên môn trong các trường dạy nghề góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động có kỹ thuật trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm quản lý Mọi hoạt động của đời sống xã hội trong suốt lịch sử phát triển của xã hội loài người đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển hệ thống xã hội ở mọi cấp độ.
ở đâu có tập thể, có tổ chức là ở đó có quản lý. Quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung. Marx đã nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung, trực tiếp được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý. một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [31, 480].
Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [29, tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu, dự kiến”. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [13, tr. Một cách tiếp cận khác của nhà lý luận quản lý nước ngoài O.
Donnel đã cho rằng: “Quản lý là sự thiết lập và giữ gìn môi trường nội bộ của một tổ chức mà ở đó, mọi người cùng nhau làm việc thoải mái, cộng tác để đạt được 6 z những hiệu quả và hiệu suất trong công việc vì mục đích chung của tập thể, của tổ chức đó”. Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra. Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của quản lý càng được nhấn mạnh và nội dung của hoạt động quản lý càng phức tạp. Tác động quản lí thường mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau.
Vì vậy, trong quản lý không thể tuân thủ theo những quy định cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềm dẻo. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Là một khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là một hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể. Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động.
Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống. Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từng người. Như vậy quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường.
Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Người quản lý phải nhạy cảm, linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo. Quản lý còn là một nghề. Người ta có thể nói rằng sự thành công hay thất bại của một tổ chức chính là sự thành công hay thất bại của chính người quản lý tổ chức đó.
Quản lý giáo dục Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, nó có từ khi loài người được sinh ra. Bởi vì trong quá trình lao động, con người có tích luỹ 7 z kinh nghiệm và con người truyền lại cho thế hệ sau, ban đầu là tự phát sau dần trở thành tự giác, có ý thức, có mục đích và có chương trình. Giáo dục có vị trí, vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội con người, vì vậy QLGD là vấn đề mà các quốc gia trên thế giới đều quan tâm. QLGD là một khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học nói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục.
QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội. Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa giảng viên với sinh viên, giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và học tập, giữa giảng viên - sinh viên và cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục. Ngày nay, theo quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục không còn giới hạn cho thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Theo lý luận giáo dục hiện đại, QLGD được hiểu như “việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đối với toàn bộ các hoạt động giáo dục” [14, tr.
Quá trình của hệ quản lý này dựa trên cơ sở của việc ra những quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt và việc xử lý thông tin về các hoạt động giáo dục một cách kịp thời. Trong cuốn Giáo dục học, Phạm Viết Vượng đã viết: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [28, tr. 8 z Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang khái niệm quản lý giáo dục là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ thống giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học) “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [25, tr.