Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THEO TIẾP CẬN TRẢI NGHIỆM Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, từ giữa thế kỉ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mĩ, John Dewey, với tác phẩm Kinh nghiệm và Giáo dục (Experience and Education) đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục. Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn [Dẫn theo 39].
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, có thể kể đến công trình nghiên cứu sau: “Phong cách học tập và không gian học: Tăng cường học tập trải nghiệm trong giáo dục đại học” (Learning Styles and 13 Learning Spaces: Enhancing Experiential Learning in Higher Education) (2005) của Kolb, KY, Kolb, DA: Các tác giả đã giới thiệu khái niệm về “không gian học tập như là một khuôn khổ cho sự hiểu biết giữa việc học tập của HS và môi trường thực tiễn, minh họa việc học tập trong khuôn khổ sử dụng một không gian nhất định và trình bày các nguyên tắc cho việc tăng cường học tập trải nghiệm trong giáo dục đại học. Quản lí dạy học là hoạt động trọng tâm của người quản lí các cơ sở giáo dục, đồng thời cũng là nội dung quan trọng nhất trong công tác quản lí trường học. Chính vì vậy, vấn đề quản lí hoạt động dạy học luôn được các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà quản lí giáo dục đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học, sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy của các nhà trường với nhiều quan điểm khác nhau. 6 Các công trình của các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trước đây như M.
Zimin, khẳng định rằng kết quả toàn bộ hoạt động quản lí của người CBQL phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lí hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV. Các tác giả này đã đi sâu nghiên cứu quản lí quá trình giảng dạy trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lí [6]. Đặc biệt, họ rất chú trọng việc trao đổi chuyên môn giữa CBQL và GV để đưa ra cách quản lí tốt nhất khi nhấn mạnh rằng, “những cuộc trao đổi này như đòn bẩy, đã nảy sinh ra những dự định mà sau này trong công tác quản lí được phát triển trong lao động sáng tạo của tập thể sư phạm” [39]. Các tác phẩm này cũng đi sâu phân tích tầm quan trọng của công tác dự giờ và nghiên cứu bài học; chỉ ra trong hoạt động dạy của GV tình trạng yếu kém hiện nay.
Trong đó, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của hoạt động quản lí dạy học trong nhà trường. Ngoài ra, một công trình nghiên cứu khác được nhiều người biết đến là của tác giả James. Clawson trường đại học Virginia xuất bản năm 2004. Ông đã đưa ra một hệ thống các biện pháp quản lí giáo dục nói chung và quản lí việc dạy và học ngoại ngữ nói riêng, trong đó nhấn mạnh đến khâu dạy học ngoại ngữ bằng phương pháp trực quan.
Theo ông: “Bản thân ngoại ngữ là rất phong phú, thú vị vì nó cung cấp cho ta những hiểu biết về con người, văn hóa, địa lí, chính trị. của một dân tộc. Ngoại ngữ không hề khô cứng, nó khô cứng do chính cái cách mà người dạy truyền tải nó” [Dẫn theo 24]. Như vậy, có thể nói trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về quản lí giáo dục nói chung, quản lí dạy học ngoại ngữ nói riêng theo tiếp cận hoạt động trải nghiệm của người học.
Tuy nhiên, nghiên cứu kết hợp giữa quản lí dạy học ngoại ngữ với phát triển năng lực, vận dụng năng lực trong dạy học ngoại ngữ cụ thể là tiếng Anh vẫn chưa có. Tóm lại, qua nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm, về hoạt động trải nghiệm, dạy học theo hướng trải nghiệm của các tác giả trên thế giới, tác giả có 7 một số nhận xét sau: dạy học theo hướng trải nghiệm là cần thiết đối với tất cả cấp học, hoạt động trải nghiệm của học sinh được các tác giả trên thế giới quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như phát huy tính tích cực học tập của người học, phát triển toàn diện nhân cách. Nghiên cứu ngoài nước Nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước và chịu sự chi phối của bối cảnh toàn cầu hóa. Những năm gần đây chứng kiến việc nước ta hội nhập kinh tế thế giới, đang dần trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu.
Nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, có chất lượng là điều vô cùng cần thiết để phát triển nền kinh tế ổn định và vững mạnh. Đề án: “Dạy và học Ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30 tháng 09 năm 2008 nêu rõ những mục tiêu cụ thể như: triển khai chương trình đào tạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục THCS cho 100% HS vào năm 2020, phấn đấu có 5% cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước có trình độ ngoại ngữ Bậc 2 trở lên vào năm 2015 và đạt 30% vào năm 2020 [41]. Cùng với sự chỉ đạo của Bộ giáo dục ĐT, nhiều hội thảo khoa học đã được tổ chức nhằm thúc đẩy dạy học và đổi mới dạy học ngoại ngữ như Hội thảo Quốc tế với chủ đề “Giáo dục ngôn ngữ và hội nhập” tổ chức ngày 14, 15/11/2008 tại Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội thảo khoa học toàn quốc về công nghệ thông tin “Các giải pháp công nghệ và quản lí ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường Đại học Sư phạm Hà Nội phối hợp với Dự án Giáo dục THCS tổ chức ngày 9,10/12/2006 tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội v.v… Các hội thảo trên đã tập trung phân tích các yêu cầu, thực trạng và đề xuất các giải pháp dạy học ngoại ngữ trong thời kỳ hội nhập cũng như ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học đặc biệt là dạy học ngoại ngữ. 8 Bên cạnh đó, trong hướng nghiên cứu về quản lí dạy học ngoại ngữ nói chung và quản lí dạy học tiếng Anh nói riêng trong nhà trường, có thể kể tên một vài đề tài nghiên cứu như: - Tác giả Hoàng Công Đình với luận văn “Một số biện pháp quản lí của chủ nhiệm bộ môn đối với hoạt động dạy học ngoại ngữ ở trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên” [16], đề tài đã đưa ra hệ thống một số cơ sở lí thuyết và thực tiễn về quản lí hoạt động dạy học ngoại ngữ, nhấn mạnh vai trò của nhà quản lí chuyên môn trong việc xây dựng và thực thi kế hoạch quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ (trong đố có tiếng Anh).
Song chưa đề cập tới vai trò của các CBQL nhà trường. - Tác giả Vũ Thị Thúy với luận văn “Một số biện pháp quản lí dạy học môn tiếng Anh của Bộ môn Ngoại ngữ trường Cao đẳng kĩ thuật y tế I” [42], đề tài đã đề cập trực tiếp tới các hoạt động quản lí dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường với tiếp cận quá trình dạy học từ mục tiêu, nội dung, phương pháp cũng như kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn tiếng Anh. Song hạn chế là chưa gắn với chức năng quản lí, các biện pháp đề xuất chưa giả quyết các vấn đề cốt yếu của quản lí hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trong nhà trường. - Tác giả Nguyễn Văn Sơn với luận văn “Các biện pháp quản lí của Hiệu trưởng nhằm tăng cường phát triển năng lực trong nhà trường trung học phổ thông ở thị xã Tuyên Quang” [36], đề tài đã trình bày hệ thống các biện pháp quản lí của Hiệu trưởng với tư cách là người đứng đầu nhà trường theo tiếp cận hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực của cả GV và HS, tuy nhiên không chỉ ra được cần hình thành những năng lực nào cho HS ở từng bộ môn cụ thể.
- Tác giả Vũ Hồng Ngọc với luận văn “Một số biện pháp quản lí nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở trường Cao đẳng sư phạm Trung ương” [28], đề tài đã nêu lên cách tiếp cận đảm bảo chất lượng trong quản lí chất lượng dạy học ngoại ngữ hiện nay, đưa ra quy trình quản lí hoạt động dạy học ngoại ngữ nhằm nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ hiện nay. Song mới 9 dừng ở việc trình bày các biện pháp ở bậc học Đại học, chưa đề cập tới cấp học phổ thông thấp hơn. Lê Thị Nga trong “Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo cho hoc ̣sinh trong dạy học Lịch sử địa phương ở trường THPT huyện Ba Vì - Hà Nội” đã tổ chức quy trình tổ chức học tập trải nghiệm sáng tạo và một số hình thức tổ chức như: Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo bằng hình thức đóng vai, Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm bằng phương pháp điều tra, khảo sát địa phương, Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm bằng hình thức tham quan học tập, Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm bằng hình thức dạy học dự án, Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm bằng phương pháp tình huống [27]. Cùng hướng nghiên cứu như trên, đề tài “Thực trạng kỹ năng tự học Tiếng Anh ngoài lớp học của SV chính quy sư phạm trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh” do Nguyễn Thị Thu Huyền chủ nhiệm (2014) đã đánh giá kỹ năng tự học của SV đại học Sư phạm thuộc 4 khối ngành Địa, Anh, Hóa và Tâm lý giáo dục thông qua 5 nhóm kỹ năng tự học, gồm: lập kế hoạch tự học, đọc sách, ghi chép, ôn tập và tự kiểm tra.
Tuy nhiên các tác giả trên đây chưa đề cập đến giải pháp nâng cao nhận thức về tự học tiếng Anh của HS vì SV phải nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của tự học và có động lực, có trách nhiệm với việc tự học của bản thân thì từ đó mới có cơ sở để nâng cao năng lực tự học.