CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Như chúng ta đã biết dạy học là một đặc thù của công tác giáo dục, giữ vị trí trung tâm, chi phối mọi hoạt động khác và quyết định chất lượng giáo dục trong NT. Hoạt động giáo dục con người nói chung, HĐDH trong các NT nói riêng đã được các triết gia, nhà khoa học, nhà giáo dục nghiên cứu từ rất sớm, xây dựng thành một hệ thống lý luận luận, làm nền tảng vững chắc cho HĐDH trong NT ngày nay.
Cùng với sự hình thành và phát triển hoạt động giáo dục thì vấn đề QL giáo dục, QLNT cũng được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hết sức quan tâm.Việc chú trọng tới các biện pháp QL nhằm nâng cao hiệu quả HĐDH trong NT luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Ở phương Đông cổ đại, đã sớm xuất hiện những tư tưởng về QL nói chung và QLHĐDH nói riêng như: thuyết Đức trị của Khổng tử (551 – 479 Trước công nguyên), thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử (280 - 233 Trước công nguyên). Ở phương Tây cổ đại,các tư tưởng QL sơ khai cũng xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy Lạp của một số tác giả Socrate (469 – 399 Trước công nguyên), Platon (427 – 347 Trước công nguyên), Arixtot (384 – 322 Trước công nguyên) … Xuất hiện vào đầu thế kỷ XX quan niệm, tư tưởng của các nhà khoa học đã đề cập đến về vấn đề cốt lõi của công tác QL và QL giáo dục. Với những thuyết “QL theo khoa học” (do F.Taylor là đại diện) và tiếp đó là thuyết QL tổng quát (do H.Fayol đề xướng) đã đặt nền móng đầu tiên cho khoa học QL với những đóng góp có ảnh hưởng sâu rộng đế toàn bộ hoạt động QL trong xã hội công nghiệp, mà những nội dung cơ bản của nó vẫn có giá trị cao cho đến bây giờ.
Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, Trước hết phải nói đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc vận dụng sáng tạo Triết học Mác - Lênin và kế thừa tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến, Bác đã để lại cho nền giáo dục cách mạng Việt Nam những tư tưởng có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận giáo dục và dạy học. Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận QL giáo dục và QL trường học chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận giáo dục học. Vào những năm cuối của thế kỷ XX, đứng trước nhiệm vụ đổi mới GD&ĐT (đổi mới về nội dung, PPDH, QL…) các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục học, dạy học, QL hoạt động dạy, có thể kể đến như: “Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm”, “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” của tác giả Nguyễn Kỳ, “Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm” của tác giả Trần Bá Hoành, Trần Kiểm với tác phẩm “Khoa học quản lý nhà trường phổ thông”,“Những vấn đề cơ bản Giáo dục học hiện đại” của tác giả Thái Duy Tuyên đã đi sâu vào những bình diện khác nhaucủa HĐDH như tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học; những ưu điểm và nhược điểm của hình thức dạy học trên lớp, bản chất và mối quan hệ giữa hoạt động dạy và HĐH, vai trò của người dạy và người học; việc đổi mới nội dung cũng như cách thức tổ chức dạy học và hướng đến việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà QL với GV, những nội dung QL HĐDH của HTNT Hiện nay, có một số đề tài nghiên cứu thực tiễn về thực trạng QLHĐDH tại các trường PTDTNT đã đưa ra các biện pháp QL hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cho các cơ sở giáo dục, có thể kể đến như: “QL hoạt động tự học của HS trường trung học PTDTNT tỉnh Phú Yên” (Luận văn thạc sĩ của Lê Hồng Duy - Đại học Quy Nhơn); Biện pháp QL công tác giáo dục đạo đức cho HS ở trường PTDTNT Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định (Luận văn thạc sĩ của Phạm Đình Tân - Đại 8 học Quy Nhơn); Biện pháp QL đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS ở các trường THCS DTNT tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay (Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Dờn - Đại học Quy Nhơn). Các đề tài nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn công tác QLHĐDH ở địa phương, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy tại các đơn vị này.
Hầu hết các công trình nghiên cứu về QLHĐDH chủ yếu tập trung ở các trường Trung học phổ thông nói chung, một số ít nghiên cứu ở trường PTDTNT. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về công tác QLHĐDH ở trường THPTDTNT N’Trang Lơng tỉnh Đăk Nông. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.Quản lý Khái niệm “Quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn.Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới QL. Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ “Quản lý” có thể nêu một số định nghĩa như sau: Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất hoạt động QL gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển”… Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)”.14] Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [23, tr.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QL là những tác động có định hướng, 9 có KH của chủ thể quản lý đến đối tượng QL trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [31,tr. Tóm lại“QL là một quá trình tác động có định hướng phù hợp quy luật khách quan của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm khai thác và tận dụng hiệu quả những tiềm năng và cơ hội của đối tượng QL để đạt được mục tiêu QL trong một môi trường luôn biến động, chủ thể QL tác động bằng các chế định xã hội, tổ chức về nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất và uy tín, chế độ chính sách đường lối chủ trương trong các phương pháp QL và công vụ QL để đạt mục tiêu QL”. Ta có thể mô tả hoạt động QL theo sơ đồ 1. Công cụ quản lý Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Mục tiêu quản lý PP quảnlý Sơ đồ 1.1: Mô hình hoạt động quản lý 1.
Quản lý giáo dục Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QL giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có KH hợp quy luật của chủ thể QL, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý của Đảng, thực hiện các tính chất của NT xã hội chủ nghĩa điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến bộ trạng thái về chất”[21, tr 36]. Trần Kiểm cho rằng: “QL giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể QL nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [22, tr. Đặng Quốc Bảo cho rằng: “QL giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều 10 hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người.
Cho nên QL giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân”[1, tr. Từ các cách tiếp cận trên, có thể thống nhất: “QL giáo dục là hệ thống tác động có hướng đích của chủ thể QL đến đối tượng QL ở các cơ sở giáo dục khác nhau trong toàn bộ hệ thống giáo dục, nhằm phát triển quy mô cả về số lượng và chất lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục”. Quản lý nhà trường NT là bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. NT là một hoạt động xã hội, một thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi truyền bá những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người, nền văn hóa nhân loại cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLNT là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa NT vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thệ hệ trẻ và từng HS”[21, tr. Như vậy, QL NT là hệ thống những tác động có hướng đích của HT đến con người (cán bộ, GV, nhân viên (NV) và HS) đến các nguồn lực (CSVC (CSVC), tài chính, thông tin…) nhằm đẩy mạnh các hoạt động của NT theo nguyên lý giáo dục, tiến tới mục tiêu giáo dục hợp với quy luật. Hoạt động dạy học 1. Hoạt động Quan điểm triết học cho rằng: “Hoạt động là một phương thức đặc thù của con người quan hệ với thế giới, một quá trình qua đó con người tái sản xuất và cải tạo thế giới tự nhiên, do đó làm cho bản thân mình trở thành chủ thể hoạt động và làm cho những hiện tượng của tự nhiên mà con người nắm được trở thành khách thể của hoạt động của mình”[30,tr 256].