Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý HĐDH môn LS&ĐL ở các trường THCS theo Chương trình GDPT 2018. Thực trạng quản lý HĐDH môn LS&ĐL ở các trường THCS huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo Chương trình GDPT 2018. Biện pháp quản lý HĐDH môn LS&ĐL ở các trường THCS huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo Chương trình GDPT 2018.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Dạy học và quản lý hoạt động dạy học là đề tài luôn nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà giáo dục trong nước và quốc tế. Dạy học là hoạt động lao động xã hội xuất hiện từ lúc con người có nhu cầu truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm của thế hệ trước. Quản lý ra đời khi có sự phân công lao động xã hội.
Quản lý dạy học là một quá trình xã hội đặc thù. Thực tiễn và lý luận về quản lý dạy học được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Nhà sư phạm vĩ đại J.Comenxki (1592-1670) đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền GD theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học. Theo ông, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức.
Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho HS của tôi tinh thần độc lập trong quan sát trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn”. Ông còn viết: “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạ cảm phán đoán đúng đắn, phát triển nh n cách t m ra phương pháp cho dạ ít hơn học được nhiều hơn” [dẫn theo 15]. Trong thế kỷ XX, John Dewey (1859-1952) là một trong những nhà nhà triết học lớn nhất nước Mỹ nửa đầu thế kỉ XX, đồng thời là nhà tâm lý học, nhà giáo dục vĩ đại, đã có đóng góp lớn lao vào công cuộc cải cách giáo dục của nhân loại. Tư tưởng triết học và sự nghiệp giáo dục đồ sộ của John Dewey đã có ảnh hưởng to lớn làm thay đổi nền giáo dục Mỹ suốt thế kỷ XX và sang cả thế kỷ XXI.
John Dewey đã dành trọn cuộc đời của mình cho sự nghiệp xây dựng một nền giáo dục dân chủ, vì sự tiến bộ của người học, vì lợi ích to lớn của con người, vì sự phát huy tài năng, trí tuệ, đạo đức nơi mỗi cá nhân con người, nhằm xây dựng cộng đồng xã hội thực sự tốt đẹp. Tư tưởng giáo dục của J.Dewey cho rằng: Trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ con các bài học kiến thức và bài học luân lý. Trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri thức nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội. Tác giả Jean Piaget (1896-1980), nhà Tâm lý học lỗi lạc người Thụy Sỹ, dành cả cuộc đời nghiên cứu về sự phát triển nhận thức của trẻ em, thì cho 6 rằng: Sự học tập chính là sự phát triển các “cấu trúc sơ khai”, là kết quả của một quá trình năng động tìm kiếm thế quân bình giữa chủ thể và môi trường thông qua quá trình “đồng hóa”.
“điều tiết” và “thích nghi”. Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS thế nào”, I.Kharlamốp đã khẳng định vai trò to lớn của tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới. Tác giả cho rằng “Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học thuộc b nh thường các quy tắc, các kết luận khái quát quát hoá, nó phải được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích tính lôgíc sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hình thành các khái niệm khoa học". Bên cạnh đó, nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về QLGD như Sallis Edward, Silva Roncelli-Vaupot; Marmar Mukhopadhyay; Michael Svec - Reflections on international school science teaching; Science teacher magazine [31].
Các nghiên cứu quốc tế đều khẳng định việc quản lý hoạt động dạy và học giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo chất lượng đầu ra. Các nghiên cứu cũng chỉ ra một số nguyên nhân khiến chất lượng dạy học thấp hơn mức mong đợi như: việc quản lý yếu kém hoạt động dạy của GV, Phương pháp học của HS chủ yếu là học vẹt và ít có thực hành, phân bổ thời gian cho việc học ở trường và ở nhà còn chưa phù hợp… Ở Việt Nam hiện có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: “Cơ sở khoa học của QLGD” của tác giả Nguyễn Minh Đạo [18], “QLGD - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của nhóm tác giả Đặng Quốc bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [3]. Các tác giả đã nêu lên nguyên tắc cơ bản của việc quản lý các HĐDH, từ đó chỉ ra biện pháp quản lý nhà trường ở Việt Nam nhằm góp phần mang lại hiệu quả cho sự phát triển giáo dục của đất nước. Ngoài những nghiên cứu chung như trên, cũng có những tác giả tập trung nghiên cứu sâu hơn mảng GDPT và chất lượng đội ngũ GV như “Mô hình hội đồng tư vấn trong nhà trường phổ thông ở một số nước trên thế giới” của tác giả Đặng Minh Hiển [21], hay công trình “Tổ chức ĐD ở trường T PT theo định hướng phát triển năng lực HS” của tác giả Trần Trung Dũng [16], “Năng lực giáo dục của GV THCS qua dạy học môn học” của tác giả Nguyễn Hồng Quân [23].
Thông qua nghiên cứu này, các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố tâm lý cá nhân, sự phát triển nhận thức có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của HS lứa tuổi THCS. Trong Chương trình tổng thể GDPT 2018, giáo dục LS&ĐL có vai trò góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho 7 HS; có sứ mệnh hình thành và phát triển thế giới quan khoa học ở học sinh; đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục HS tinh thần khách quan, tình yêu thiên nhiên, tôn trọng các quy luật của tự nhiên để từ đó biết ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và môi trường. Giáo dục LS&ĐL giúp HS dần hình thành và phát triển năng lực KHXH qua quan sát và thực nghiệm, vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống; Ở cấp THCS, giáo dục KHXH được thực hiện chủ yếu thông qua môn LS&ĐL với việc tích hợp các kiến thức về Lịch sử, Địa lí. Các kiến thức, kĩ năng này được tổ chức theo các mạch nội dung, đồng thời từng bước phản ánh vai trò của KHXH đối với sự phát triển xã hội.
Các nội dung này được sắp xếp chủ yếu theo logic tuyến tính, kết hợp một số nội dung đồng tâm nhằm hình thành nhận thức về thế giới tự nhiên và Lịch sử thế giới và dân tộc, giúp HS bước đầu vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học về KHXH trong đời sống. [10] Mặc dù có nhiều nghiên cứu như vậy, nhưng chưa có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề quản lý HĐDH môn LS&ĐL ở các trường THCS theo Chương trình GDPT 2018 một cách có hệ thống và phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Do vậy, việc nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDH môn LS&ĐL ở các trường THCS huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo Chương trình GDPT 2018 có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần phục vụ công tác giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển xã hội, tạo tiền đề để đưa giáo dục huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình phát triển. Khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Thuật ngữ “Quản lý” gồm hai quá trình tích hợp nhau: “Quản” là chăm nom, “lý” là sắp đặt. Quản lý là chăm nom sắp đặt mọi công việc trong một tổ chức, là sự gìn giữ và sắp xếp.
Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định. Trong Từ điển tiếng Việt có nêu: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Tuy nhiên, có tác giả lại cho rằng: Quản lý là một quá trình hoạt động có định hướng, có tổ 8 chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định.
Ngày nay, quản lý được hiểu là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Theo Winslon Frederich Taylor (1856-1915), người được xem là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất ” [dẫn theo 4]. Tác giả Henry Fayol đưa ra định nghĩa: “Quản lý là sự phối hợp của dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, yêu cầu thực hiện, phối hợp với các thành viên và điều chỉnh công việc” [30, tr. Học giả người Mỹ Harold Koontz lại định nghĩa: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [29, tr. Ở Việt Nam tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động mang tính hoạch định của chủ thể quản lý trong việc hu động, kết hợp, sử dụng điều chỉnh điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [dẫn theo 22].