Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục thể chất là môn học bắt buộc trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển hài hòa cả thể lực lẫn trí lực cho học sinh. Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thời lượng môn học được phân bổ chuẩn hóa 70 tiết trong mỗi năm học, tương đương 2 tiết mỗi tuần cho tất cả các khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9 cấp trung học cơ sở. Cùng với đó, Quyết định số 1076/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2025 có 100% cơ sở giáo dục phổ thông triển khai hiệu quả chương trình thể dục thể thao nội khóa. Mặc dù vậy, tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, công tác quản lý và tổ chức dạy học môn Giáo dục thể chất vẫn gặp không ít khó khăn khi khoảng 32,5% cán bộ và người học vẫn giữ tâm lý xem đây là môn học phụ.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát đánh giá thực trạng và đề xuất 6 nhóm biện pháp quản lý mang tính đồng bộ, khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Bình Minh. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 7 trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn thị xã, thu thập chuỗi số liệu từ năm học 2019 - 2020 đến năm học 2021 - 2022, với giai đoạn khảo sát chuyên sâu vào tháng 5 và tháng 6 năm 2022. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần nâng tỷ lệ học sinh đạt chuẩn rèn luyện thể lực từ 82,4% lên trên 95%, đồng thời chuẩn hóa năng lực quản trị chuyên môn cho 100% đội ngũ cán bộ quản lý trường học địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại của Harold Koontz và Frederick Winslow Taylor, tập trung vào 4 chức năng cốt lõi bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo chuyên môn và kiểm tra đánh giá. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa quan điểm giáo dục thực nghiệm của John Dewey và nguyên lý dạy học trực quan của John Amos Comenius nhằm khẳng định vai trò của việc học tập thông qua thực hành vận động. Định hướng đổi mới giáo dục được quán triệt từ Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, lấy việc phát triển toàn diện 4 trụ cột Đức, Trí, Thể, Mỹ làm mục tiêu giáo dục căn bản.

Khung lý thuyết của luận văn tập trung làm sáng tỏ 3 khái niệm cơ bản: hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực; vai trò quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng theo Điều lệ trường học tại Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT; và các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học gồm 3 yếu tố nền tảng là nhân lực giáo viên, phương tiện sân bãi và hình thức kiểm tra đánh giá.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp nghiên cứu lý luận và điều tra thực tiễn. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng hỏi trên cỡ mẫu gồm 125 cán bộ quản lý, giáo viên và 350 học sinh cấp trung học cơ sở thuộc 7 trường trên địa bàn thị xã Bình Minh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện đồng đều cho cả các trường thuộc khu vực trung tâm đô thị lẫn khu vực nông thôn ngoại thành.

Để xử lý số liệu điều tra, tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học với phần mềm chuyên dụng SPSS. Các chỉ số thống kê mô tả như điểm trung bình theo thang đo 5 mức độ từ 1,00 đến 5,00 và độ lệch chuẩn được tính toán để lượng hóa mức độ nhận thức và thực trạng quản lý. Kiểm định tương quan Pearson và kiểm định t-test được lựa chọn nhằm đo lường mức độ tương quan tuyến tính và độ tin cậy giữa tính cần thiết với tính khả thi của các biện pháp đề xuất. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 24 tháng từ năm 2020 đến năm 2022, hoàn thiện công trình luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với quy mô 148 trang.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại các trường trung học cơ sở thị xã Bình Minh đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của môn Giáo dục thể chất đạt mức khá cao với điểm trung bình 4,15/5,00. Tuy nhiên, nhận thức của học sinh và cha mẹ học sinh chỉ đạt mức trung bình khá với điểm số 3,42/5,00, trong đó khoảng 32,5% học sinh chưa chủ động tham gia các hoạt động luyện tập ngoài giờ.

Thứ hai, việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực đạt mức trung bình với điểm số 3,68/5,00. Có tới 68,4% giáo viên tích cực áp dụng phương pháp chia nhóm luyện tập, nhưng tỷ lệ giáo viên thực hiện phân hóa bài tập phù hợp với thể trạng của từng nhóm học sinh thể lực yếu mới chỉ đạt 41,2%.

Thứ ba, điều kiện cơ sở vật chất và sân bãi phục vụ môn học còn thiếu thốn, chỉ đạt điểm trung bình 3,25/5,00. Hiện chỉ có 3 trong tổng số 7 trường trung học cơ sở, tương đương tỷ lệ 42,8%, có nhà tập đa năng hoặc sân tập có mái che đạt chuẩn, khiến khoảng 57,1% số tiết học ngoài trời bị ảnh hưởng mỗi khi thời tiết mưa lớn hoặc nắng gắt.

Thứ tư, công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập ghi nhận chuyển biến tích cực đạt điểm trung bình 3,75/5,00. Mặc dù vậy, việc phối hợp giữa giáo viên với hình thức học sinh tự đánh giá và đánh giá chéo giữa các nhóm mới đạt tỷ lệ 38,6%, quy trình kiểm tra phần lớn vẫn phụ thuộc vào thành tích vận động định lượng cuối học kỳ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trên xuất phát từ nguồn kinh phí đầu tư công cho cơ sở vật chất trường học tại thị xã Bình Minh còn eo hẹp, chưa đáp ứng kịp tiến độ đổi mới của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Bên cạnh đó, áp lực thi tuyển sinh vào lớp 10 khiến phụ huynh và học sinh dồn thời gian cho các môn văn hóa, gián tiếp làm giảm động lực rèn luyện thể chất.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, thực trạng thiếu thốn sân bãi và dụng cụ chuyên dùng là bài toán chung, khi tỷ lệ trường đạt chuẩn cơ sở vật chất thể thao toàn vùng chỉ dao động từ 40% đến 45%. Toàn bộ dữ liệu thực trạng trong luận văn được minh họa trực quan qua 18 bảng số liệu thống kê chi tiết và 3 biểu đồ so sánh, phản ánh rõ ràng mối quan hệ nhân quả giữa năng lực quản trị của người đứng đầu nhà trường với kết quả rèn luyện thể lực của học sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng, luận văn đề xuất hệ thống 6 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ:

Một là, nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và gia đình về vị thế của môn Giáo dục thể chất theo Chương trình 2018. Phấn đấu đạt 100% cán bộ giáo viên và trên 90% cha mẹ học sinh hiểu đúng về vai trò phát triển thể chất trong năm học 2023 - 2024, dưới sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu các trường.

Hai là, bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý chuyên môn cho Hiệu trưởng cùng Tổ trưởng chuyên môn. Tổ chức định kỳ 2 đợt tập huấn nghiệp vụ mỗi năm học nhằm cập nhật phương pháp giảng dạy hiện đại và kỹ năng chuyển đổi số trong quản lý thể thao trường học.

Ba là, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học và hoạt động thể thao ngoại khóa. Thành lập và duy trì tối thiểu 3 câu lạc bộ thể thao tự chọn như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông tại mỗi đơn vị trường, thu hút trên 80% học sinh tham gia rèn luyện thường xuyên trước năm 2025.

Bốn là, huy động các nguồn lực xã hội hóa giáo dục để phát triển phong trào thể chất. Phối hợp với chính quyền địa phương và ban đại diện cha mẹ học sinh huy động thêm 15% đến 20% nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhằm mua sắm dụng cụ và tôn tạo sân bãi tập luyện.

Năm là, tăng cường đầu tư, bảo quản và khai thác tối đa hiệu suất của cơ sở vật chất hiện có. Xây dựng lịch phân bổ sân bãi khoa học, đảm bảo 100% các lớp học thể chất đều được tiếp cận dụng cụ tập luyện an toàn.

Sáu là, đổi mới toàn diện công tác kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực, kết hợp 100% giữa đánh giá thường xuyên quá trình rèn luyện với đánh giá tiêu chuẩn thể lực định kỳ hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn dành cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Long cùng Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Bình Minh. Nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng làm căn cứ chỉ đạo chuyên môn, quy hoạch mạng lưới trường lớp và xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất thể thao học đường giai đoạn 2023 - 2025.

Nhóm thứ hai là Ban Giám hiệu các trường trung học cơ sở. Tài liệu cung cấp bộ giải pháp quản trị thực tiễn giúp người hiệu trưởng tối ưu hóa việc phân công giảng dạy, sắp xếp thời khóa biểu 70 tiết mỗi năm và huy động nguồn lực xã hội hóa hiệu quả.

Nhóm thứ ba là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục thể chất. Thầy cô có thể vận dụng các mô hình câu lạc bộ thể thao tự chọn và phương pháp phân hóa bài tập theo 3 mức độ thể lực vào thực tế từng tiết học.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý giáo dục. Bộ công cụ khảo sát thực tế và khung lý thuyết 148 trang của đề tài là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 quy định thời lượng môn Giáo dục thể chất cấp trung học cơ sở như thế nào? Môn Giáo dục thể chất là môn học bắt buộc xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 9 với tổng thời lượng chuẩn là 70 tiết trong một năm học, được bố trí đều đặn 2 tiết mỗi tuần trong khung 35 tuần thực học, nhằm giúp học sinh duy trì nền nếp vận động và rèn luyện thể lực thường xuyên.

Khó khăn lớn nhất trong việc giảng dạy môn Giáo dục thể chất tại thị xã Bình Minh hiện nay là gì? Khảo sát thực tế cho thấy cơ sở vật chất sân bãi là điểm nghẽn lớn nhất với điểm đánh giá chỉ đạt 3,25/5,00. Hiện có tới 57,1% số trường thiếu nhà tập đa năng đạt chuẩn, dẫn đến các tiết học thực hành ngoài trời thường xuyên bị gián đoạn do điều kiện thời tiết.

Luận văn đề xuất bao nhiêu giải pháp và mức độ khả thi của các giải pháp ra sao? Tác giả đề xuất hệ thống 6 nhóm biện pháp quản lý toàn diện. Kết quả khảo nghiệm từ 125 chuyên gia và cán bộ quản lý ghi nhận mức độ cần thiết đạt điểm trung bình 4,45/5,00 và tính khả thi đạt 4,32/5,00, khẳng định tính thực tiễn cao khi áp dụng vào nhà trường.

Làm thế nào để thay đổi nhận thức xem môn thể chất là môn phụ của học sinh và phụ huynh? Nhà trường cần tích cực truyền thông về lợi ích của vận động đối với trí tuệ, đồng thời đa dạng hóa nội dung dạy học qua các câu lạc bộ thể thao tự chọn theo sở thích, tạo sân chơi hào hứng giúp học sinh tự giác tham gia và phụ huynh an tâm đồng hành.

Kiểm tra đánh giá môn Giáo dục thể chất theo chương trình mới có điểm gì khác biệt? Chương trình mới chuyển trọng tâm từ việc đo thành tích kỹ thuật sang đánh giá sự tiến bộ về thể lực, thái độ rèn luyện và thói quen giữ gìn sức khỏe của từng học sinh, đồng thời tăng cường tỷ lệ tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng lên mức 38,6%.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Văn Vàng mang lại những giá trị khoa học và thực tiễn nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất cấp trung học cơ sở theo yêu cầu đổi mới của Chương trình 2018.
  • Đánh giá chân thực và sâu sắc bức tranh thực trạng tại 7 trường trung học cơ sở thị xã Bình Minh thông qua khảo sát 125 cán bộ giáo viên và 350 học sinh.
  • Đóng góp 6 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ với độ tương quan cao về tính cần thiết và tính khả thi đều đạt trên 4,30/5,00.
  • Xác lập lộ trình thực hiện cụ thể trong giai đoạn 2022 - 2025 nhằm nâng cao tỷ lệ học sinh đạt thể lực tốt lên trên 95%.
  • Kêu gọi các cấp quản lý và nhà trường đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, tạo môi trường thuận lợi để 100% học sinh phát triển toàn diện thể chất và tinh thần.