phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mẫu giáo ở trường mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non công lập huyện Yên Định, Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay. Chƣơng 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non công lập huyện Yên Định, Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Tác giả Irene Chatoor với cuốn sách “Bé yêu học ăn” đã chỉ rõ những khó khăn đặc thù của trẻ: bé không biết đói? Bé không biết no? Bé ghét thức ăn? Hay vì bé sợ ăn? Cuốn sách hướng dẫn từng bước nhằm giúp các gia đình điều hướng những thách thức của sự phát triển nuôi dưỡng sớm, bao gồm những gợi ý thiết thực về việc thiết lập giới hạn và thiết lập thói quen ăn uống lành mạnh cho trẻ.[16] Trong cuốn “Mười năm đầu đời của bé”, tác giả Miriam Stoppard đã phác họa từng trang sách là những hình ảnh đánh dấu cột mốc thay đổi theo từng bước trưởng thành của trẻ. Đồng thời cung cấp sơ đồ quy trình phát triển chiều cao, cân nặng để cha mẹ của trẻ có thể điều chỉnh các phương pháp dinh dưỡng cho bé và bảng theo dõi sức khỏe với các triệu chứng bệnh mà bé thường gặp.[25] Tác giả Miriam Stoppard với cuốn sách “Cẩm nang chăm sóc và điều trị bệnh trẻ em”cung cấp các thông tin về cơ thể học, sự tăng trưởng và phát triển của trẻ; hướng dẫn cha mẹ của trẻ tra cứu về cách chăm sóc, phòng bệnh cho trẻ; cách xử trí các bệnh thường gặp trong quá trình nuôi dạy trẻ. Cuốn sách “Phương pháp giáo dục Montessori - Thời kì nhạy cảm của trẻ”[24] của tác giả Maria Montessori đưa ra những phương pháp giáo dục khoa học toàn diện và hiện đại nhất thế giới hiện nay.
Cuốn sách bao gồm hình ảnh minh họa, những câu chuyện thực tế và bài tập thực hành giúp cha mẹ thấu hiểu quá trình phát triển tự nhiên của trẻ. Nhờ vậy, có thể tạo cho trẻ cơ hội vừa học vừa chơi thoải mái, đảm bảo sự phát triển toàn diện về tinh thần, giao tiếp, vận động và trí tuệ, xuyên suốt quãng thời gian đầu đời quan trọng của trẻ. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Ngành học GDMN đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng và vị trí trong hệ thống giáo dục quốc dân, được sự quan tâm của Đảng nhà nước trong việc đầu tư chăm lo cho GDMN. Nghiên cứu về GDMN và QLGDMN, tăng cường nghiệp vụ quản lý và tăng cường năng lực quản lý của các trường mầm non đã được quan tâm, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở và một số Luận văn Thạc sỹ, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về GDMN và đặc biệt là về đề tài CSND.
Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng (CLQGDD) giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ ký vào ngày 22/02/2012. Bản Chiến lược đã đề ra mục tiêu tổng quát là "Đến năm 2020, bữa ăn của người dân được cải thiện về số lượng, cân đối hơn về chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh; suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt thể thấp còi được giảm mạnh, góp phần nâng cao tầm vóc và thể lực của người Việt Nam, kiểm soát có hiệu quả tình trạng thừa cân, béo phì góp phần hạn chế các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng.” Nếu như nội dung CSND ở chương trình Chăm sóc giáo dục trước kia chỉ được coi như là một bộ phận, một nội dung để hỗ trợ cho các hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non thì trong Chương trình Giáo dục mầm non được ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe đã được quan tâm và coi đó như là một nhiệm vụ chính song song với nhiệm vụ giáo dục trẻ trong các trường mầm non và đây cũng là một trong những nội dung quyết định sự thành công của chương trình.[4] Một số công trình nghiên cứu được các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục quan tâm nghiên cứu về hoạt động nuôi dưỡng, giáo dục và quản lý hoạt động nuôi dưỡng, giáo dục trẻ dưới những góc độ và cách tiếp cận của các chuyên ngành khác nhau, tiêu biểu như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số: B2009-37-71TĐ: “Nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ từ 0 đến 6 9 tuổi ở gia đình” do tác giả Trần Thị Bích Trà làm chủ nhiệm (2011) đã tổng quan và phân tích những vấn đề lý luận cốt yếu về chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình: Một số quan niệm về giáo dục gia đình đối với trẻ từ 0 đến 6 tuổi; chất lượng giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình; tổng quan một số kinh nghiệm quốc tế ở Singapore, Úc, Mĩ, cộng hòa liên bang Đức về giáo dục mầm non gia đình. Đề tài đã đánh giá thực trạng thực hiện các biện pháp giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình; đi sâu phân tích một số nét về thực trạng phát triển giáo dục mầm non ở nước ta và giáo dục mầm non gia đình tại các tỉnh điều tra; khảo sát thực trạng một số yếu tố cơ bản của gia đình ảnh hưởng tới giáo dục mầm non và thực trạng giáo dục mầm non ở gia đình cùng thực trạng thực hiện phối hợp các biện páp giáo dục gia đình đối với trẻ mầm non. Đề tài tổng kết những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo phát triển giáo dục mầm non, đồng thời đưa ra 7 nguyên tắc đề xuất biện pháp.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng và những nguyên tắc đã đề ra, đề tài đề xuất 5 nhóm biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình [44]. Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền (2009) trong luận văn thạc sĩ QLGD về đề tài: “Các biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng trẻ của hiệu trưởng các trường mầm non công lập quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh” đã đánh giá thực trạng quản lý của hiệu trưởng ở các trường mầm non quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh đối với các hoạt động nuôi dưỡng trẻ, đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ [32]. Tác giả Ông Thị Hồng Phượng (2016) với đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục “Biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc trẻ tại các trường mầm non huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng” trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng nhằm đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ tại các trường mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng góp phần thực hiện tốt chiến lược nâng cao sức khỏe, nâng cao thể lực, nâng cao tầm vóc góp phần giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ [33]. 10 Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của tác giả Triệu Thị Hằng (2016), “Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Hoa Hồng quận Đống Đa, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay”.
Tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về khái niệm, nội dung, những yếu tố tác động đến quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Từ đó tổ chức khảo sát, tổng hợp và đánh giá làm rõ những ưu điểm, hạn chế trong quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thanh Hóa và cáctỉnh, thành phố khu vực phía Bắc[46]. Trong luận văn thạc sĩ QLGD Triệu Thanh Hương (2017) “Quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Thanh Hóa”. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục trên địa bàn quận Thanh Xuân, nhằm đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ mầm non tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục với mục đích nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, góp phần phát triển bậc học giáo dục mầm non của quận Thanh Xuân nói riêng, của thành phố Thanh Hóa nói chung [45].
Trong luận văn thạc sĩ QLGD về đề tài: “Quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở các trường mầm non, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá”, tác giả Lê Thị Bảo Châu (2017) đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường mầm non thành phố Thanh Hoá. Tác giả đã đề xuất được hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường mầm non thành phố Thanh Hoá khá toàn diện. [20] Nhóm tác giả Phạm Ngọc Hùng, Vũ Việt Dũng, Trần Trọng Hóa, Nguyễn Thành Nhân, Lê Khánh Trình, Phạm Văn Doanh đã xây dựng thành công phần mềm Hệ thống quản lý dinh dưỡng cho các trường mầm non và tiểu học. Phần mềm đưa ra các thông số về dinh dưỡng cho thực đơn hàng ngày cho học sinh ăn bán trú ở các trường, mà còn làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng dinh 11 dưỡng của bữa ăn.
Đây được coi là công cụ hỗ trợ cho việc hữu ích cho cán bộ quản lý trong lựa chọn, sắp xếp thực đơn, đảm bảo dinh dưỡng cho học sinh, trẻ mầm non, mẫu giáo của các nhà trường [36]. Ngoài ra còn có nhiều bài viết, nhiều sáng kiến kinh nghiệm của các tác giả nghiên cứu về quản lý những vấn đề về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ và các yêu cầu nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần cho trẻ, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục mầm non; kiểm định chất lượng giáo dục mầm non và xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.