CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN Đất nước Việt Nam ngay từ thời xa xưa đã có truyền thống hiếu học, với truyền thống tôn sư trọng đạo rất coi trọng vai trò của người thầy giáo. Điều đó nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt đến GD, đến đội ng GV. Hầu hết các Quốc gia trên thế giới đều coi bồi dưỡng GV là vấn đề cơ bản và cốt lõi trong quá trình thực hiện phát triển GD.
Việc tạo điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên, kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội, là phương châm hành động của các cấp QLGD. Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnh CNH- HĐH, nhằm mục đích dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, phấn đấu năm 2020 đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp, đó là nhiệm vụ hàng đầu đảm bảo xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đảng ta đã khẳng định: “Muốn tiến lên CNH-HĐH, phải phát triển mạnh GD&ĐT, phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”.[3] Trong hệ thống GD quốc dân, GDMN là cấp học đầu tiên, thời k mầm non còn được gọi là thời k vàng của cuộc đời. Với sự phát triển đặc biệt của trẻ mầm non, nên vai trò của GDMN không một cấp học nào có được, đó chính là việc thực hiện đồng thời cả 3 nhiệm vụ: nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.
Sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo tới sự nghiệp GDMN. Người từng căn dặn “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ c ng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt”[12]. Luật GD đã khẳng định: Đây là bậc học vô cùng quan trọng, là cơ sở, nền tảng cho quá trình học tập và phát triển tư duy của trẻ, hình thành cơ sở ban đầu của nhân cách con người 7 z mới, chuẩn bị tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường tiểu học. Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1.
Muốn đạt được mục tiêu trên, việc đầu tiên cần phải chăm lo phát triển năng lực sư phạm cho người GV, bởi vì GV là nhân tố quyết định trực tiếp đến quá trình hình thành phát triển nhân cách trẻ. Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ng nhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn 2005-2010 trong mục tiêu tổng quát đã nêu: “Xây dựng đội ng nhà giáo và cán bộ QLGD được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp GD để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước”[1] Các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về GD&ĐT đã được thể hiện trong Luật giáo dục 2005, các Nghị quyết Trung Ương 4 khoá VII , Nghị quyết Trung Ương 2 khoá VIII , kết luận hội nghi Trung Ương 6 khoá IX và Nghị quyết Đại hội đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI. Nói về nhà giáo, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Từ lâu, nghề dạy học đã được đánh giá là một trong những nghề cao quý nhất và nhà giáo luôn được xã hội tôn vinh. Nhà giáo và CBQL là lực lượng có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
GVMN là nhân tố quan trọng góp phần quyết định trong việc thực hiện hoạt động dạy và học có chất lượng, thực hiện phổ cập GDMN. Để đạt được những yêu cầu đó, đòi hỏi phải có đội ng nhà giáo có chất lượng tốt, phải là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định đối với sự nghiệp GD&ĐT thế hệ trẻ thành những người công dân chân chính. Đặc biệt, việc quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN theo CNN ở từng địa phương chưa đáp ứng kịp với những 8 z đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới về kinh tế, xã hội, thực hiện CNH-HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đã xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu về lý luận GD, lý luận dạy học, các bài viết đăng trên các tạp chí, tập san, báo ngành ngày càng nhiều.
Nhưng vấn đề lý luận về bồi dưỡng GV chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống. Trong giai đoạn này có một số tác giả đề cập đến như: Năm 2007 “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ng giáo viên” nói về các vấn đề để nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức cho đội ng của nhóm tác giả: Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa [14]. Năm 2008 tác giả Đinh Thị Kim Thoa “Đánh giá trong GDMN” nói về phương pháp đánh giá trong GDMN từ đó làm tiền đề cơ sở bồi dưỡng đội ng GVMN [15]. Cuốn sách “Giao tiếp và ứng xử của cô giáo với trẻ em” 1995 trình bày các vấn đề cơ bản về phương thức giao tiếp với trẻ em, ứng xử của cô giáo mầm non, người lớn, xã hội đối với quá trình hình thành "nhân cách gốc" ở trẻ em tuổi mầm non của tác giả Ngô Công Hoàn [25].
Các tác giả tên tuổi ra đời như: Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn K , Trần Bá Hoành, V Văn Tảo đã có Ấn phẩm "Tự học, tự đào tạo - tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam" năm 1997, có đề cập tới lĩnh vực bồi dưỡng GV còn ít và đi sâu về vấn đề bồi dưỡng GVMN [10]. Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục đã nghiên cứu về vấn đề quản lý GV, hoạt đồng bồi dưỡng GV như: Năm 1999 tác giả Nguyễn Huy Thông có đề tài “Một số giải pháp quản lý phát triển đội ng GVMN trên địa bàn huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”. Năm 2009 của tác giả Lưu Thị Kim Phượng viết về “Quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho GV MN TP Thái Nguyên. Đề tài năm 2011 của tác giả Nguyễn Hữu Lê Duyên “Thực trạng hoạt động quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở một số trường MN tại TP Hồ Chí Minh”, đã tiếp cận 9 z nghiên cứu về vấn đề xây dựng, bồi dưỡng, quản lý, phát triển đội ng GV, đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ sở lý luận về xây dựng và đề xuất các biện pháp trong việc quản lý hoạt động bồi dưỡng, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế c ng như của điều kiện các nhà trường mà tác giả đang hoạt động để từng bước củng cố, đào tạo, bồi dưỡng các lực lượng CBQL, GV chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực trong GD, quyết định sự phát triển GD.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trường mầm non C thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội đáp ứng CNN”. Tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên, đề tài luận văn này sẽ đưa ra thực trạng hoạt động quản lý bồi dưỡng GV trường mầm non C thị trấn Văn Điển huyện Thanh Trì, TP Hà Nội và trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp có tính cấp thiết, tính khả thi phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong hoạt động quản lý bồi dưỡng GVMN nhằm góp phần cùng nâng cao chất lượng đội ng GVMN huyện Thanh Trì, TP Hà Nội đáp ứng CNN trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ khi xã hội loài người hình thành các tổ chức như một nhu cầu thiết yếu khách quan.
Đến nay, quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ xã hội.Mác nói: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều c ng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. [11] Với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ kinh tế, xã hội, GD,. các nhà khoa học trong và ngoài nước đã đưa ra những định nghĩa tương đối đồng nhất về khái niệm quản lý.
10 z Henry Fayol, nhà nghiên cứu người Pháp 1841 - 1925 cho rằng: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động : kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo lãnh đạo và kiểm tra. Ông còn khẳng định "Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức." Theo nhà khoa học người Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915 , người được hậu thế coi là "cha đẻ của thuyết quản lý khoa học". Là người rất thành công trong quản lý sản xuất, ông đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là: “Quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy xã hội phát triển”. Ông cho rằng "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.Koontz người Mỹ lại khẳng định: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động mỗi cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm tổ chức .