Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hiệu quả TBDH ở trường tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý TBDH ở trường Tiểu học Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Biện pháp quản lý hiệu quả TBDH ở trường Tiểu học Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HIỆU QUẢ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lí luận dạy học. Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực giáo dục học, tâm lí học, lí thuyết về dạy học trực quan đã có bước tiến mới nhận thức được vai trò quan trọng của phương tiện - TBDH trực quan. Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của GV, giúp HS không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ bản chất của hiện tượng.
Người Ấn Độ đã từng tổng kết: tôi nghe - tôi quên; tôi nhìn - tôi nhớ; tôi làm - tôi hiểu. Theo Lênin quy luật nhận thức của con người là “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Đổi mới PPDH là vấn đề đang được ngành giáo dục và xã hội rất quan tâm. Trong việc đổi mới PPDH thì TBDH là yếu tố đặc biệt quan trọng.
Có nhiều công trình nghiên cứu về TBDH và phương tiện dạy học như nhà giáo dục Komenski (Tiệp Khắc); Nhà giáo dục học lỗi lạc người Thụy Sĩ J. Hội nghị Quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sỹ) đã khẳng định: ngành giáo dục cần phải được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phương pháp để tạo cho tất cả các HS có những cơ hội học tập. Usinski (người Nga) và các học trò của ông tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học. Usinski khẳng định trực quan là nguồn gốc, là cái ban đầu của cảm giác, tri thức cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ.
Ông viết: “Không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com anh đưa cho học sinh xem một bức tranh và giải thích nó, đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung”. Các nhà giáo dục học đã chứng minh được rằng việc khuyến khích, động viên HS nhận thức thế giới xung quanh thông qua chính những giác quan của mình về hình ảnh trực quan sống động phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ. Như vậy, điểm qua sự phát triển của lý thuyết về TBDH trong lịch sử giáo dục thế giới, có thể thấy rằng vai trò của TBDH đã được phát hiện và phát triển từ rất sớm. Nghiên cứu ở Việt Nam Quản lí TBDH là một trong những hoạt động quản lí của nhà trường, nó góp phần to lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
Tục ngữ Việt Nam đã có câu đúc kết: Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm. Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: Học phải đi đôi với hành. Ở Việt Nam, các nhà khoa học đã phát triển và truyền bá lý luận về nguyên tắc dạy học trực quan, nghiên cứu về TBDH và quản lý việc sử dụng TBDH. Các tác giả cho ta thấy được những yêu cầu sư phạm khi lựa chọn và sử dụng TBDH, vai trò của TBDH trong hoạt động dạy học.
Đó là các nhà giáo dục học Ngô Quang Sơn, Vũ Trọng Rỹ, Trần Khánh Đức; các nhà tâm lý học Tô Xuân Giáp , Phạm Minh Hạc,. Việc đầu tư cơ sở vật chất – thiết bị dạy học được Đảng và Nhà nước quan tâm, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành tiêu chí TBDH từ mẫu giáo đến phổ thông từ những năm 1960; Ngày 16/7/2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp Tiểu học. Các tác giả như; Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí,.đã xây dựng hệ thống lý luận cốt lõi cho việc vận dụng khoa học quản lý vào nhà trường, trong đó có quản lý TBDH. Tác giả Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ năm 2005 về: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm giáo dục 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng”.
Tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của TBDH trong các hoạt động giảng dạy, giáo dục và học tập, đồng thời tác giả đã đưa ra các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của việc trang bị, sử dụng và bảo quản TBDH ở các cơ sở giáo du ̣c [32]. Tác giả Lê Thị Bính hoàn thành luận văn thạc sĩ năm 2007 với đề tài: “Biện pháp quản lý việc sử dụng hiệu quả TBDH của hiệu trưởng các trường Tiểu học quận Tây Hồ, Hà Nội” đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn từ đó hiê ̣u trưởng đề xuất một số biện pháp sử dụng và bảo quản hiệu quả đối với TBDH. Có thể nói rằng, ở mỗi nhà trường, công tác quản lý TBDH có vai trò to lớn trong việc nâng cao hiệu quả khai thác TBDH và chất lượng dạy học. Bởi vì, nó giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về sự phát triển cũng như mức độ ảnh hưởng của TBDH tới công nghệ dạy học ở trong nước, khu vực và trên thế giới.
Đánh giá được thực trạng của TBDH, quá trình sử dụng, khai thác, bảo quản, bảo dưỡng có chất lượng và đầu tư, mua sắm TBDH ở nhà trường, từ đó hoạch định chiến lược phát triển TBDH một cách lâu dài là cấp bách đối với CBQL và là việc làm hết sức cần thiết ở các nhà trường. Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề quản lí TBDH tại các trường Tiểu học còn ít đề tài đề cập đến, chính vì vậy mà tác giả đã tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lí TBDH tại nhà trường để từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý TBDH ở trường Tiể u ho ̣c Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm cơ bản có liên quan 1.1 Quản lý Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, hoạt động quản lý đã xuất hiện từ rất sớm. Từ khi con người biết tập hợp nhau lại, tập trung sức lực để tự vệ hoặc lao động kiếm sống thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều khiển đối với họ.
Đó chính là những dấu ấn đầu tiên của hoạt động quản lý. Những hoạt động đó xuất hiện, tồn tại và phát triển như một yếu tố khách quan, là cơ sở đảm bảo cho các hoạt động chung của con người đạt được kết quả mong muốn. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, hoạt động quản lý có bản chất là hoạt động tự giác, đúng như Ph. Ăngghen đã chỉ ra: “Trong lịch sử xã hội, nhân tố hoạt động là con người có ý thức, hành động có suy nghĩ hay dưới ảnh hưởng của nhiệt tình và theo đuổi những mục đích nhất định.
Ở đây không có gì được thực hiện mà lại không có ý định tự giác, không có mục đích mong muốn.Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”.
Nhà quản lý cổ điển cho rằng: “Quản lý là lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, phối hợp và kiểm tra” đó chính là Henri Fayol, người Pháp. Khái niệm này xuất phát từ sự khái quát về các chức năng của quản lý. Theo nhà khoa học người Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), người được hậu thế coi là người rất thành công trong quản lý sản xuất là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”. Ông cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Ông đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý: “Quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy xã hội phát triển”; “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ”. “Quản lý là đảm bảo tối đa sự phù hợp của nhân tố chủ quan hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân với những yêu cầu của các quy luật khách quan, của sự phát triển xã hội”. Quan niệm này đã nhấn mạnh cả yếu tố con người và yếu tố khoa học (tức là nắm vững và hành động phù hợp với quy luật khách quan) của quản lý. Đây là quan niệm quản lý của các nhà nghiên cứu quản lý xã hội chủ nghĩa theo nghĩa rộng.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý- theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô, 1997 – là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật. Kĩ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động. Còn ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý cũng bàn nhiều về khái niệm quản lý. Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [10].