Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu hoạt động trải nghiệm của học sinh tiểu học Học tập thông qua trải nghiệm là một khái niệm đã tồn tại trong lịch sử GD từ xa xưa. Theo thời gian, nó đã dần được phát triển bởi các NGD trên toàn thế giới và được các quốc gia có hệ thống GD tiên tiến áp dụng như một triết lý GD của quốc gia.
Các NGD đã xem xét vai trò của kinh nghiệm trong GD từ nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào quan điểm triết học của họ về GD: "Học tập qua trải nghiệm" đã được nghiên cứu phổ quát, với chu trình học tập thông qua trải nghiệm của David Kolb chiếm vị trí trung tâm. Để đảm bảo trải nghiệm học tập đích thực, Kolb nhấn mạnh một số điều kiện tiên quyết. Chúng bao gồm sự tham gia tích cực của người học, phản ánh sâu sắc về trải nghiệm và áp dụng các kỹ năng phân tích để khái quát hóa và rút ra những khái quát. Ngoài ra, người học nên áp dụng khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề của mình để kết hợp thành công những hiểu biết mới học được từ kinh nghiệm.
Kolb phác thảo sáu khía cạnh quan trọng của HĐTN: nhấn mạnh vào quá trình học tập hơn là kết quả, nhận ra việc học tập như một hành trình liên tục bắt nguồn từ kinh nghiệm thực tế, điều hòa xung đột giữa các mô hình lý thuyết và thực tế thực tế, thừa nhận sự tương tác giữa các cá nhân và môi trường của họ trong quá trình học tập, và hiểu học tập là hành động tạo ra kiến thức, nơi kiến thức xã hội được chuyển thành sự hiểu biết cá nhân. Thông qua nghiên cứu của họ, Bisson và Luckner phát hiện ra rằng người học cảm thấy thích thú, thoải mái, nâng cao nhận thức về bản thân, giảm căng thẳng, hạ thấp rào cản xã hội giữa các cá nhân và giảm bớt sự cạnh tranh tiêu cực giữa HS giỏi và HS yếu cả trong và sau trải nghiệm. (dẫn theo [16]) Jonh Deway là người đưa ra quan điểm “Học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Ông tuyên bố rằng cuộc sống và GD là một quá trình chứ không phải hai 6 quá trình.
Trẻ em phải học trong chính đời sống xã hội bởi vì mọi người không ngừng tiếp thu và định hình lại kinh nghiệm. (dẫn theo [22]) Ngay từ khi bắt đầu xây dựng hệ thống GD của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng cách tốt nhất để tạo nên người vừa có tài vừa có đức là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Học tập dựa trên trải nghiệm liên quan đến việc kết nối các bài học trên lớp với các tình huống trong thế giới thực bằng cách sử dụng sự sáng tạo, cho phép tích lũy kinh nghiệm rồi dần dần chuyển thành NL. Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa GD chính trị vào chương trình giảng dạy trong nhà trường.
Rõ ràng “học và hành”, “lý luận kết hợp với thực tiễn” luôn là những nguyên lý GD bền vững và được duy trì, phát triển. Chương trình Dạy và Học vì một Tương lai Bền vững đã được UNESCO thông qua vào năm 2002 tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc về Phát triển Bền vững. Về cơ bản, nó kết hợp GD trải nghiệm trên cơ sở bốn trụ cột: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người [dẫn theo 30]. Tác giả Đặng Thị Kim Thoa đã khẳng định: “Trải nghiệm là phương thức học hiệu quả gắn với vận động, với thao tác vật thật và gắn với đời sống thực.
Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành, học từ trải nghiệm giúp người học đạt được tri thức và kinh nghiệm. có ý nghĩa GD cao nhất” (dẫn theo [30]). Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả GDPT; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền GD nặng về truyền thụ kiến thức sang nền GD phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi HS” [31]. “HĐTN là nâng cao năng lực thực hành của HS; học đi đôi với hành, theo báo cáo từ Hội thảo dạy học trải nghiệm cho HS phổ thông (2015) của Bộ GD&ĐT”.
Mỗi HS được kỳ vọng sẽ hành động dựa trên kinh nghiệm cá nhân, 7 phát triển các sáng kiến để gắn kết với thực tế, sản xuất liên tục và thúc đẩy sự sáng tạo cũng như óc tò mò của chính các em. Khả năng phối hợp, liên kết nhiều LLGD trong và ngoài nhà trường cần thiết cho hoạt động GD trải nghiệm tích hợp nhiều lĩnh vực học tập và GD. HS được phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo thông qua các HĐ này cũng khuyến khích các em tham gia. HS tham gia vào mọi giai đoạn của HĐ.
HS có cơ hội trình bày và lựa chọn ý tưởng, tham gia lập kế hoạch, thiết kế các HĐ, thử nghiệm, bày tỏ ý kiến, tham gia tự đánh giá và khẳng định bản thân. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động trải nghiệm ở trường tiểu học Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề tích hợp định hướng GD mới vào thực tiễn và quản lý GDPT thông hiện nay. Điển hình là nghiên cứu của Đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý HĐTN của HS ở các trường TH quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội" của tác giả Phạm Ngọc Quỳnh năm 2019. Tác giả quan niệm “Quản lý HĐTN của HS ở các trường TH là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến toàn bộ HĐTN của HS nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các HĐTN, góp phần phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực HS theo mục tiêu GDTH” [30].
Bài viết “Tổ chức HĐTN trong dạy học viết văn miêu tả ở trường TH đáp ứng CTGDPT 2018” của tác giả Nguyễn Thị Xuân Yến đã đưa ra các biện pháp như: đào tạo GVTH về dạy văn miêu tả và các HĐ thực hành; nâng cao năng lực dạy học văn miêu tả của GV và thu hút HS vào HĐ thực tiễn; Để xác định mục tiêu, quy trình và kết quả của trải nghiệm, GV cũng phải xác định phương tiện của trải nghiệm gián tiếp trong lớp học. Bài viết “Một số hình thức tổ chức HĐTN nội dung làm đồ chơi dân gian phần công nghệ lớp 3” theo của nhóm tác giả “Trần Thị Thùy Dung và Nguyễn Thị Vân Anh” đã hướng dẫn HS làm đồ chơi dân gian qua “hội thi làm đèn Trung thu; Hội thi nặn tò he; Hội thi tìm hiểu truyền thống làm đồ chơi dân gian ở Việt Nam; Hội thi làm các đồ chơi dân gian bằng lá; Hội thi tìm hiểu các làng nghề làm đồ chơi dân gian Việt Nam. Qua các chủ đề Tết Trung thu; Chủ đề Tết thiếu nhi; Chủ đề đồ chơi dân gian địa phương, từ đó tác giả khẳng định nội dung dạy học làm đồ chơi dân gian là một nội dung rất thú vị, gợi nhiều 8 hứng thú với HS”. Việc vận dụng một cách linh hoạt các hình thức trải nghiệm sẽ khiến cho nội dung học [16].
Bài viết “Thiết kế HĐTN ngoài giờ học môn tiếng Việt, chủ điểm “Việt Nam - Tổ quốc em” cho HS lớp 4” của tác giả Nguyễn Thị Dung đã thiết kế HĐTN qua học dự án và tổ chức triển lãm “Việt Nam - Tổ quốc em”,Theo tác giả, việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ học Tiếng Việt cho HS lớp 4 thực sự là lồng ghép các hoạt động ngoài giờ học vào dạy học, giúp củng cố và phát triển các năng lực cần thiết cho HS. Bài viết “Thực trạng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức HĐTN cho HS ở trường TH trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của dạy học trải nghiệm ở TH của CBQL, GV và HS như tác giả Hoàng Thị Ngọc đã đề cập; Xây dựng chiến lược thực hiện HĐTN cho HS phù hợp với quy định và điều kiện thực tế của nhà trường; cập nhật và thay đổi cấu trúc tổ chức cho các HĐTN; Tăng cường nỗ lực lập kế hoạch, giám sát, theo dõi và ĐGKQ HĐTN ở TH. Những hành động này đã cải thiện hiệu quả HĐ. Bài viết “Thực trạng và đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tổ chức HĐTN cho GVCN lớp trong các trường TH tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng”, Để nâng cao nhận thức của CBQL và GV về giá trị của việc lập kế hoạch HĐTN, Hoàng Thị Hiền đã xây dựng các biện pháp như tổ chức nâng cao nhận thức và phát triển kỹ năng lập kế hoạch.
kinh nghiệm giảng dạy; lập kế hoạch các HĐ đáp ứng các yêu cầu của GDTH, bao gồm nâng cao năng lực; đánh giá GV đứng lớp trong trường học dựa trên năng lực của họ trong việc lập kế hoạch cho các cơ hội HĐTN; thúc đẩy một môi trường nơi GV có thể học cách lập kế hoạch cho các cơ hội học tập kinh nghiệm; xây dựng năng lực cho CSVC để lập kế hoạch cho các cơ hội HĐTN cho GV đứng lớp [22]. Tác giả Trần Thị Thanh Thủy (2019) trong đề tài “Tổ chức HĐTN cho HS ở các trường TH thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”, Qua đánh giá việc tổ chức các HĐ ngoài trời cho HS đã chỉ ra một số tồn tại. Thứ nhất, GV thiếu sáng tạo trong khâu lập kế hoạch, dẫn đến cách làm lặp đi lặp lại. Ngoài ra, còn thiếu sự thống nhất về phương pháp thực hiện, dẫn đến cách tiếp cận 9 không nhất quán giữa các GV khác nhau.
Hơn nữa, GV gặp nhiều khó khăn khác nhau trong quá trình tổ chức, chẳng hạn như thời gian chương trình hạn chế, hạn chế cá nhân và hạn chế về tài chính. Để giải quyết những vấn đề này, tác giả đề xuất một loạt các biện pháp. Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức của GV và CBQL về tầm quan trọng của HĐTN và tổ chức dã ngoại cho HSTH. Thứ hai, cần tập huấn, hỗ trợ GVTH nâng cao kỹ năng triển khai HĐTN cho HS.