phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà nội. Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý có hiệu quả đối với công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Tại chỉ thị số 40/CT-TƯ ngày 15/6/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã khẳng định: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu… đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [1]. Muốn phát triển kinh tế xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển toàn diện con người. Nguồn lực con người là sự kết hợp hài hòa giữa trí lực, thể lực, nhân cách và kinh nghiệm sống. Vì thế trong nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực luôn đặt ra mục tiêu phát triển con người.
Con người có phát triển đầy đủ và toàn diện thì mới có nhân lực chất lượng cao. Ở nước ta hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất của nhân dân ta được cải thiện và ngày càng được nâng cao, nhân cách con người đã có những biến đổi, bên cạnh mặt tích cực cũng đã xuất hiện mặt tiêu cực, có ảnh hưởng đến công tác giáo dục trong nhà trường. Tình trạng suy thoái về đạo đức của một bộ phận học sinh, sinh viên, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chỉ biết hưởng thụ, không biết cống hiến, chán học, bỏ học, mục đích động cơ học tập chưa rõ ràng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào nhà trường đó là những vấn đề nổi cộm trong thời gian gần đây. Vì vậy, nhà trường, gia đình, xã hội, cần có sự liên kết chặt chẽ trong việc giáo dục học sinh; trong nhà trường vai trò chính là đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm lớp (GVCNL).
Về công tác GVCNL đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các đề tài tiêu biểu như: 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Cải tiến việc quản lý đội ngũ GVCNL của Hiệu trưởng trường phổ thông (đề tài cấp trường)- của Lưu Xuân Mới (chủ nhiệm đề tài). Trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, Hà nội 1998. - Giáo dục học (chương XVI. Người GVCNL)- của Phạm Viết Vượng.
NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2004. - Phương pháp công tác của người GVCN ở trường Trung học phổ thông- của Hà Nhật Thăng (chủ biên). NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2004. Một số bài báo, tư liệu khác viết về công tác GVCNL như: - Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên cao đẳng Sư phạm- Vũ Đình Mạnh.
Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005) - Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên cao đẳng Sư phạm- Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 135 (kỳ 1-4/2006). Như vậy, cho đến nay, theo những tài liệu mà chúng tôi có được vẫn chưa có những công trình đề cập đến các biện pháp quản lý công tác GVCNL ở trường cao đẳng một cách đầy đủ và hệ thống. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn tập trung nghiên cứu vấn đề trên cả cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn ở trường cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà nội, đề xuất một số biện pháp quản lý công tác GVCNL ở các trường cao đẳng nói chung, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các trường cao đẳng trên địa bàn thủ đô Hà nội, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trƣờng Cao đẳng 1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và hoạt động này càng ngày càng phát triển trong xã hội. Trong quá trình lao 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động, đấu tranh với thiên nhiên, để sinh tồn và phát triển con người cần phải hợp sức lại với nhau để tự bảo vệ và kiếm kế sinh sống.
Những hoạt động tổ chức, chỉ đạo, điều khiển,…các hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu chung là những dấu ấn đầu tiên của quản lý. Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ “quản lý”, có thể nêu một số định nghĩa như sau: - Theo lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về quản lý: quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những qui luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra. - Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất (William-Taylor). - Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, hướng vào mục tiêu nhất định (giáo trình quản lý- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).
Quản lý là dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệu quả quản lý. - Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. (Nguyễn Văn Lê- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)- trong tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Cũng theo đó các tác giả còn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
Như vậy có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích…) của chủ thể quản lý lên chủ thể bị quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức và nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hay người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động. Các nhà nghiên cứu về quản lý đã đưa ra nhiều đề xuất về nội dung của các chức năng quản lý chung: - F. Taylor (1856-1915) và Henrry Fayol (1841-1925) đưa ra năm chức năng quản lý: kế hoạch hoá- tổ chức- chỉ huy- phối hợp- kiểm tra. - Theo sách giáo khoa của trường Đảng cao cấp Liên Xô (cũ) có nêu ra 6 chức năng quản lý chung: soạn thảo mục tiêu- kế hoạch hoá- tổ chức- phối hợp- động viên- kiểm tra.
- Theo tài liệu tập huấn cán bộ quản lý giáo dục của UNESCO đề ra 7 chức năng: kế hoạch hoá- tổ chức- bố trí biên chế- chỉ đạo- phối hợp- tổng kết- quyết toán ngân sách. - Ở Việt nam, theo cuốn “Quản lý trường phổ thông cơ sở” của Viện khoa học giáo dục Hà nội năm 1998 (nay là Viện khoa học giáo dục Việt nam) đã đề xuất hệ thống các chức năng quản lý là: kế hoạch hoá- tổ chức- kích thích- kiểm tra- điều phối (phối hợp và điều chỉnh). - Gần đây ở nước ta, trong quá trình quản lý người ta sử dụng các hệ thống phân loại chức năng quản lý nêu trên, song có thể khái quát lại chỉ còn 4 chức năng cơ bản là: + Kế hoạch + Tổ chức (bao gồm cả việc thu thập nguồn dự trữ và bố trí biên chế) 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Chỉ đạo (bao gồm cả việc động viên, kích thích giám sát và phối hợp). + Kiểm tra (bao gồm cả tổng kết, quyết toán và đánh giá) Bốn chức năng đó quan hệ với nhau tạo thành một chu trình quản lý, được biểu diễn bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý Kế hoạch Thông tin Kiểm tra Tổ chức Quản lý Chỉ đạo + Kế hoạch: là chức năng khởi đầu, là bản thiết kế, kế hoạch là tiền đề, là điều kiện của mọi quá trình quản lý.
Kế hoạch có nghĩa là xác định mục đích, mục tiêu đối với tương lai của tổ chức và biện pháp, cách thức để đạt tới mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của nội dung kế hoạch: (a) xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng đối với tổ chức); (b) xác định và bảo đảm (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này; (c) xác định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó. + Tổ chức: tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực.
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công việc của chúng và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ nối ngay sau các chức năng kế hoạch và tổ chức.