phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục y đức cho sinh viên ngành Y. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục y đức cho sinh viên trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục y đức cho sinh viên trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC Y ĐỨC CHO SINH VIÊN NGÀNH Y 1.
Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề Để duy trì sự tồn tại và phát triển, con người từ thời nguyên thủy đã có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tổ chức thành bầy đàn, thị tộc, bộ lạc.các quan hệ đơn giản của xã hội ban đầu chưa có giai cấp. Trải qua quá trình phát triển của xã hội, tư duy của loài người càng trở nên phong phú và phức tạp, đòi hỏi mỗi cá nhân sống trong cộng đồng phải thường xuyên tự giác điều chỉnh thái độ, hành vi của mình trong cách giao tiếp, ứng xử sao cho phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc xã hội, không vi phạm đến nhu cầu, lợi ích của người khác. Trong trường hợp đó, cá nhân được tập thể, cộng đồng coi là người có ĐĐ. Ngược lại những cá nhân biểu hiện thái độ, hành động chỉ vì lợi ích của riêng mình, gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của người khác, của cộng đồng.bị xã hội chê trách, phê phán thì cá nhân đó bị coi là người thiếu ĐĐ.
Trong xã hội loài người khi làm bất cứ nghề gì cũng cần phải có ĐĐ và được gọi là “ĐĐ nghề nghiệp”. Ngành Y là ngành có liên quan đến sức khỏe, tính mạng con người. Vì vậy, người làm nghề Y càng phải có những phẩm chất ĐĐ đặc biệt được gọi là y đức. Từ thời cổ đại Hy Lạp (460-370 TCN), Hyppocrates khi bước vào hành nghề Y đã tuyên thệ với lời thề: “Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết”.
Đến đầu thế kỷ XVIII, Danh y Việt Nam Lê Hữu Trác có biệt hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) đã nêu trong cuốn Âm án và Dương án, 8 đức tính của người người làm nghề Y: Nhân, Minh, Trí, Đức, Thành, Lương, Khiêm, Cần và 8 điều tội lỗi mà người hành nghề Y phải tránh: Lười, Keo kiệt- Bủn xỉn, Tham, Lừa dối, Bất nhân, Hẹp hòi, Thất đức, Dốt. 4] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong thư gửi cán bộ Y tế ngày 27/2/1955 Bác Hồ đã dạy chúng ta rằng: Cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn, Lương y phải như Từ mẫu. Hồ Đắc Di (1900- 1984), nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội đã nêu cao tinh thần về y đức trong đào tạo sinh viên, trong diễn văn khai giảng ngày 6- 10- 1947 tại trường Ông nói: “Trường ta gắn bó với vận mệnh của Tổ quốc: phục vụ nhân dân, học đi đôi với hành, dạy đi đôi với nghiên cứu khoa học. Về quan hệ thầy trò là quan hệ thân ái, đoàn kết, cùng nhau học tập tiến bộ, không có chỗ cho sự quỵ luỵ, ý thức phê bình phải được đề cao để hiểu được chân lý.
Trường y khoa phải là chính mình: Hiểu cái thật, yêu cái đẹp, để thực hiện cái tốt”. Đỗ Nguyên Phương nguyên Bộ Trưởng Bộ Y tế đã ra chỉ thị số 09/2001/CT-BYT về tăng cường y đức, nâng cao tinh thần thái độ phục vụ và chất lượng chăm sóc người bệnh tại các cơ sở y tế.TS Lê Ngọc Trọng, nguyên thứ trưởng Bộ Y tế trong bài viết thi đua thực hiện lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh “Lương y phải như từ mẫu” đã nêu những tấm gương, những thầy thuốc, thầy giáo hết lòng phục vụ sự nghiệp chăm sóc nhân dân, đồng thời trong bài viết cũng nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao y đức trong giai đoạn hiện nay. 1] Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta ở thế kỷ XX đã có biết bao những thầy thuốc, thầy giáo là tấm gương tiêu biểu về y đức, đó là Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Tôn Thất Bách, Đặng Thuỳ Trâm. đã đóng góp hết khả năng của mình cho sự nghiệp giáo dục, giải phóng đất nước, xây dựng ngành Y tế và giúp cho sức khỏe của nhân dân ta không ngừng được cải thiện, tuổi thọ người dân ngày càng cao.
Ngày nay đất nước ta đã được thanh bình, đang trong quá trình phát triển, hội nhập. Bên cạnh rất nhiều tấm gương sáng tận tuỵ vì sự nghiệp sức 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoẻ nhân dân, ngành Y tế vẫn còn một số người lơ là trong rèn luyện y đức, lối sống, thờ ơ, vô cảm với nỗi đau của người bệnh, coi nặng kinh tế, lợi dụng cơ chế thị trường, dành thời gian ngay cả trong giờ làm việc để khám bệnh tư, hướng dẫn người bệnh đến cơ sở tư nhân của bản thân hoặc người quen khám chữa bệnh vì mục đích kinh tế, còn có hiện tượng gợi ý tiêu cực phí hoặc kê đơn để người bệnh mua thuốc, chụp X quang, siêu âm, làm các thủ thuật, chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng đắt tiền không cần thiết.tại các nhà thuốc, phòng khám tư, gây nhiều khó khăn tốn kém cho người bệnh, nhất là người bệnh nghèo, diện chế độ chính sách. Các biểu hiện đó thật xa lạ đối với y đức của người cán bộ y tế, làm giảm lòng tin của nhân dân vào tính ưu việt của nền y tế XHCN. Chính vì vậy, việc giáo dục y đức cho những người đã và sẽ công tác trong ngành Y nói chung và cho SV điều dưỡng nói riêng ngay khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường để sau này ra trường họ sẽ trở thành người cán bộ có đủ tài và đức, phục vụ tốt việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân cần hết sức được coi trọng.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý Hoạt động quản lý có từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người. Đó là do yêu cầu của việc tổ chức lao động chung. Nó đã làm tăng hiệu quả lao động cao hơn so với việc làm riêng lẻ của các cá nhân có chung mục tiêu hoạt động.
Trong tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn của từng quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và phải chịu một sự quản lý nào đó. Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuật ngữ “quản lý” dược hiểu và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau: - Cách tiếp cận theo thực tiễn: Đây là cách tiếp cận trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm mà thông thường là thông qua các trường hợp cụ thể.
Qua việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc là thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự. - Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: người ta đã dựa trên những ý tưởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do vậy việc nghiên cứu nên tập chung vào mối quan hệ giữa người với người. Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “Con người nên hiểu con người”.
Với học thuyết này giúp cho người quản lý ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền. Thay vì quá chú trọng tới các chức năng của người quản lý. Thuyết này đã hướng dẫn “cách” người quản lý thực hiện “cái” họ phải làm. - Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: Cách tiếp cận này cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định.
Quản lý không những có tính khoa học mà còn có tính nghệ thuật nữa, việc tìm hiểu một cách chung nhất những khái niệm cũng như các trào lưu tư tưởng và học thuyết quản lý có thể tạo nên một tầm nhìn, một nhãn giới nhất định về việc nhà quản lý nên học hỏi những gì và phải thực thi những gì trong hoạt động thực tiễn của mình. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau đây là một số khái niệm về quản lý: Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. 1] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”. Nguyễn Trọng Hậu cho rằng “Quản lý có nghĩa là tiến hành một công việc, làm cho một sự kiện nảy sinh, là quá trình lôi cuốn tất cả mọi người vào hoạt động của họ trong tổ chức.
Quản lý là công việc chung của toàn bộ tổ chức”.18] Như vậy, quản lý là tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thay đổi tích cực, để đạt được mục đích của chủ thể quản lý. Hay là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó, điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận.