phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho học sinh trung học cơ sở các trường dân tộc nội trú tỉnh Đắk Nông Chƣơng 2. Thực trạng quản lý giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho học sinh các trường trung học cơ cở dân tộc nội trú tỉnh Đắk Nông Chƣơng 3. Các biện pháp quản lý công tác giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho học sinh các trường trung học cơ cở dân tộc nội trú tỉnh Đắk Nông 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNGVĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ DÂN TỘC NỘI TRÚ 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu công tác quản lý giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Xuân Kính, việc nghiên cứu văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Việt Nam của các học giả nước ngoài được tiến hành từ những năm đầu thế kỉ XX. Những người đầu tiên sưu tầm, biên dịch và công bố sử thi các dân tộc thiểu số Tây Nguyên chính là người Pháp. Năm 1927, Sử thi Đam San được Lê o Pôn xa ba chiê (Léo pold Sabatier) sưu tập chú thích dịch từ tiếng Ê đê ra tiếng Pháp.
Do toàn quyền P. pasquier) và nhà văn Rô lăng Đooc giơ lét viết lời tựa xuất bản tại Pari. Sách được in trang trọng với nhiều tranh vẽ khá đặc sắc. Xa ba chiê công bố lần thứ hai tác phẩm Đam San in ở Viện Viễn đông bác cổ.
Trong lần công bố này có in tiếng Ê đê, dịch từng từ, dịch toàn bộ chú thích và giới thiệu [13, tr. Năm 1955, trên tạp chí của viện viễn đông bác cổ, sử thi Đam Di do Đô minich Awngto macki ( Dominiqu An to mi nas ) công bố và viết giới thiệu. G Công đô mi nát dùng từ Anh hùng ca – Sử thi để định danh thể loại cho Đam San và Đam Di. Như vậy, với những việc sưu tầm và công bố sử thi của người Pháp, người ta biết rằng nhiều dân tộc Tây Nguyên có sử thi [13, tr.
Hội nghị khoa học “Đẩy mạnh giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế” tổ chức ở Tokyo vào tháng 2 năm 1994 với sự tham gia của 12 nước trong 8 khu vực đã tổng kết kinh nghiệm và đã thống nhất đưa ra mô hình giáo dục giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế gồm 8 nhóm giá trị: 1/ Nhóm giá trị liên quan đến quyền con người; 2/ Nhóm giá trị liên quan đến dân chủ; 3/ Nhóm giá trị liên quan đến hợp tác và hòa bình; 4/ Nhóm các giá trị liên quan đến bảo vệ môi trường; 5/ Nhóm giá trị liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa; 6/ Nhóm các giá trị liên quan đến bản thân và những người khác; 7/ Nhóm các giá trị liên quan đến tính dân tộc. Các nghiên cứu trong nƣớc Vấn đề giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc nói chung giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh cho thế hệ trẻ nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm với các công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, bối cảnh thế giới và Việt Nam có nhiều thay đổi, nhiều định hướng giá trị và thang giá trị đạo đức truyền thống có sự chuyển dịch nên vấn đề tổ chức giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ càng thu hút được sự quan tâm của nhiều người. Qua các nguồn tài liệu cho thấy, văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số hiện nay đang có những biểu hiện mai một, việc giáo dục văn hóa truyền thống chưa được quan tâm đúng mức.
Do đó, việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc là vấn đề thời sự và cấp thiết. Nhiều đề tài khoa học, nghiên cứu, hội thảo khoa học về lĩnh vực văn hóa đã công bố liên quan đến đề tài với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Một số chuyên khảo tiêu biểu đi sâu nghiên cứu nhằm xác định các giá trị văn hóa dân tộc làm cơ sở cho việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là thế hệ thanh niên. Trong phạm vi nghiên cứu có thể đề cập đến một số nghiên cứu sau: Tác phẩm “Đam San”, Đào Từ Chi dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, 9 Hà Nội, năm 1957, công bố trên Tạp chí Văn nghệ với tên gọi Bài ca Chàng Đam San.
Những nghiên cứu về văn hoá dân tộc và tổ chức giáo dục truyền thống văn hoá dân tộc thiểu số có học giả Trần Văn Giàu (1980) với "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam"; Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang (1996) với "Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay", Trần Ngọc Thêm (2001) với tác phẩm: "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" và “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã cung cấp những khái niệm cơ sở, nền tảng cho ngành Văn hóa học. Tác phẩm "Bản sắc văn hóa Việt Nam" của Phan Ngọc (2002) hay Hồ Bá Thâm (2003) nghiên cứu “Bản sắc văn hóa dân tộc”. Trần Mạnh Thường (2010) có tác phẩm "Việt Nam văn hóa và giáo dục”. Dưới quan điểm dân tộc học về văn hóa, Phan Hữu Dật (2004) có tác phẩm "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam".
Tác giả Nguyễn Hồng Hà (2001) có tác phẩm "Văn hóa truyền thống dân tộc với giáo dục thế hệ trẻ" hay Tác giả Nguyễn Trung Hoà (Trung tâm nghiên cứu phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi) với tham luận: “Tri thức bản địa bảo tồn và phát triển chữ, tiếng Thái vùng Tây Bắc”. Năm 2014, “Dự án Phát triển giáo dục trung học phổ thông giai đoạn II” biên soạn Tài liệu bồi dưỡng án bộ quản lí và giáo viên trung học phổ thông về giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc VHDT thiểu số (sử dụng nội bộ). Nghiên cứu thực tiễn về giáo dục văn hoá dân tộc truyền thống đã được Phạm Quang Tể (2012) thực hiện đề tài: “Nhà trường với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên”. Kết quả nghiên cứu khẳng định: “giáo dục có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hoá và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên trong các cơ sở giáo dục bảo đảm phù hợp với từng cấp học, độ tuổi và thực tế của địa phương tỉnh Điện Biên” Hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống đã có nhiều nghiên cứu, tìm 10 hiểu và đề xuất nhiều biện pháp quản lí khoa học và khả thi như luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Đức Long (2009) "Biện pháp quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La”.
Những kết quả nghiên cứu trên giúp chúng tôi xác định các nội dung nghiên cứu nhằm kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, tránh trùng lặp, phù hợp với tình hình địa phương. Một số khái niệm chính liên quan đến đề tài 1. Quản lý Quản lý là khái niệm rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực quản lý và có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày một số quan niệm thuộc lĩnh vực quản lý xã hội mà chủ yếu trong lĩnh vực quản lý giáo dục.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “ Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan. Còn có nghĩa khác là trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì ” [23, tr.1363] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định [19, tr. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “ Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức ”. “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng), kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [4].
Theo các tác giả Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức: “Quản lý là nhằm phối hợp nổ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng người biến thành những thành tựu của xã hội” [12, tr. 11 Các quan niệm về quản lý nêu trên tuy có khác nhau, song cùng có những nét chủ yếu sau: Quản lý là những tác động có tính hướng đích; được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; là những tác động phối hợp nổ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Như vậy, quản lý là những tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành nhằm đạt mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất. Quản lý giáo dục Theo tác giả Hồ Văn Liên: “ Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý ) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [14, tr.
Tác giả Trần Kiểm quan niệm quản lý giáo dục có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô tương ứng với quản lý một nền/ hệ thống giáo dục và cấp vĩ mô tương ứng với quản lý một nhà trường.