Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước Trong nếp sống hiện đại, có rất nhiều nhà nghiên cứu của các nước quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là nghiên cứu về văn hóa truyền thống dân tộc. Đối với người Nhật luôn giữ được những nét truyền thống, họ rất coi trọng bản sắc văn hóa và đề cao giáo dục.
Nhất là truyền thống hiếu nghĩa với cha mẹ tổ tiên, thủy chung vợ chồng, trung thành với bạn; kính trọng thầy cô, phục tùng lãnh đạo. Từ thời Minh Trị, từ triết lý "đạo đức"của Nho giáo, Chính phủ Nhật Bản đã có chính sách không phân biệt hoàn cảnh, sắc tộc, tôn giáo, giai tầng của bất cứ thành phần nào trong vấn đề tuyển chọn nhân tài để đưa sang các nước phương Tây du học hay nói khác hơn, triết lý "đào tạo người phục vụ cho đất nước" của Nhật Bản lúc này là dựa trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng dành cho tất cả mọi người. Do đó, nó đã tạo cho người dân Nhật niềm tin rằng họ đang sống trong một môi trường xã hội công bằng, trong đó nguồn gốc xuất thân, tài sản thừa kế không quan trọng bằng sự cố gắng bản thân. Đây chính là một trong những nhân tố nhanh chóng mang lại hiệu quả cho việc phát triển kinh tế - xã hội Nhật Bản nói chung và nền giáo dục Nhật Bản nói riêng.
Năm 1947, Luật cơ bản về giáo dục được ban hành, đặt ra mục đích: “Giáo dục phải nhằm mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách, phấn đấu nuôi dưỡng một dân tộc lành mạnh về tinh thần và thể chất, một dân tộc yêu công lý và sự thật, đánh giá cao các giá trị cá nhân, tôn trọng lao động và có ý thức sâu sắc về trách nhiệm và thấm nhuần tinh thần độc lập, để xây dựng một nhà nước và xã hội hoà bình”. Để đạt được mục tiêu này, nguyên tắc giáo dục bình đẳng được đặt lên hàng đầu. Điều này có nghĩa là, lần đầu tiên trong lịch sử, mọi người dân Nhật Bản có quyền như nhau trong việc tiếp thu giáo dục phù hợp với khả năng của bản thân, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, địa vị xã hội, điều kiện kinh tế hay nguồn gốc gia đình. Quá trình dân chủ hoá giáo dục đã tạo điều kiện cho giáo dục Nhật Bản phát triển về mọi mặt.Tylor (1871 - 1917), văn hoá là “Một phức thể hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được”.
Xukhômlinxki (1918 - 1970) - nhà giáo dục lỗi lạc người Ucraina, trong tác phẩm “Tôi trái tim tôi hiến dâng cho trẻ” ông đã bộc lộ tư tưởng sư phạm nổi bậc như: Giáo dục, dạy học trước hết là sự giao tiếp tâm hồn. Nếu không có sự giao tiếp tâm hồn thường xuyên giữa thầy giáo và học sinh, nếu không có sự thâm nhập vào thế giới tư tưởng, tình cảm, rung động của nhau thì không thể có năng lực xúc cảm, yếu tố cốt tử của năng lực sư phạm, năng lực giáo dục. Giáo dục trẻ em phải hướng vào chủ 6 đích thúc đẩy sự phát triển đầy đặn và hài hoà toàn bộ sức mạnh về thể chất và tâm hồn của trẻ. Đó là sự thống nhất hài hoà giữa trí tuệ và tình cảm, trái tim và khối óc, giữa xúc cảm và năng lực trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, giao tiếp – tức là toàn bộ cuộc sống tinh thần, hiểu cả về mặt lý trí và xúc cảm, mặt thể chất và mặt trí tuệ.
Do vậy, đức, trí, thể, mỹ, lao động, học và chơi hoà quện vào nhau trong một thể thống nhất chi phối hoạt động của người thầy giáo. Thế kỷ XVII, J.Komensky - Nhà giáo dục người Xéc đã có nhiều đóng góp cho lý luận về công tác giáo dục truyền thống qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”. Ông đề xuất nhiều biện pháp giáo dục và nhấn mạnh con người phải được giáo dục từ lúc trẻ thơ, bởi trẻ em như cây non trong vườn để cây cỏ lớn lên nhất thiết phải được sự quan tâm, chăm sóc… Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo hãy mãi mãi là một tấm gương trong cuộc sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo. Văn hóa được coi là sự phát triển của con người, phù hợp với bản chất con người, phù hợp với bản chất con người.
Theo dòng chảy của lịch sử, nhận thức của con người về văn hóa luôn được mở rộng. Bêcơn (1561-1626) cho rằng văn hóa là sự tiến bộ, nảy nở tri thức. Hốp-xơ (1586-1679) cũng xem văn hóa là sự dạy dỗ, truyền đạt tri thức.Herder (1774-1803) lại có những quan niệm mới, rất độc đáo về tri thức. Theo ông văn hóa là kết quả của sự phát triển của con người.
Các quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới cũng là những quốc gia có nề giáo dục tiên tiến hiện đại. Sự phát triển “thần kỳ” của Nhật Bản, sự cất cánh của “các con rồng” châu Á như Hàn Quốc, Singapo, Đài Loan, Hồng Kông không phải do các quốc gia, vùng lãnh thổ này giàu tài nguyên, khoáng sản mà chủ yếu là do họ đã xây dựng thành công một nền GD tiên tiến, từ đó hình thành nên lực lượng lao động có chất lượng cao, chuyên nghiệp làm nền tảng, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo thuận lợi cho đất nước họ phát triển, hội nhập. Các nghiên cứu trong nước Việt Nam là một đất nước thống độc lập, thống nhất với 54 dân tộc anh em. Người Việt Nam có quyền tự hào về nền văn hóa dân tộc phong phú, đa dạng, độc đáo và có sức sống cũng như sức thu hút mãnh liệt của mình được thể hiện ở ý thức dân tộc thống nhất được hình thành từ rất sớm; ở truyền thống nhân văn sâu sắc, ở sự kết hợp giữa pháp trị và đức trị; ở sự thống nhất trong đa dạng, thừa nhận điểm chung và đặc điểm riêng từng vùng của nền văn hóa vật chất và nền văn hóa phi vật chất, tinh thần bao dung, giữ cái riêng của mình, nhưng sẳn sàng hội nhập tiếp thu cái mới của nhân loại.
[20] Khi đất nước đã được giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng, Hồ Chí Minh chỉ rõ kinh tế là nền tảng của việc xây dựng văn hoá, vì vậy phải xây dựng kinh tế làm cơ sở hạ tầng cho sự phát triển văn hoá. "Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hoá. Vì sao không nói phát triển văn hoá và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước. Phát triển kinh tế và văn 7 hoá để nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ta"[16, tr.470] Về giáo dục, Người nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, “Giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn.
Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả không hoàn toàn”. Văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [15, tr.458] Trong mọi thời đại, giáo dục luôn giữ vai trò hết sức quan trọng. Tại văn kiện Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định “Giáo dục - đào tạo gắn liền với sự phát triển kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng nền nếp văn hóa mới, con người mới. Nhà nước có chính sách toàn diện, thực hiện phổ cập giáo dục, phù hợp với khả năng, yêu cầu của nền kinh tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài”… Hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về vấn đề giáo dục, QLGD, giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số (DTTS) và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống DTTS cho học sinh. GS Nguyễn Hồng Phong đã có nghiên cứu về “Tìm hiểu tính cách dân tộc”, ông cho rằng, tính cách dân tộc gần như là tất cả nội dung của giá trị văn hóa truyền thống, bao gồm “tính tập thể, tính cộng đồng; trọng đạo đức, giản dị, thực tiễn, tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hòa bình, nhân đạo, lạc quan”.
Trong sách “Giá trị tinh thần của truyền thống dân tộc Việt Nam” của GS Trần Văn Giàu cho rằng, giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam bao gồm: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa”. Trên cơ sở tiếp tục khẳng định các quan điểm cơ bản cốt lõi về phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới, Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã dành sự quan tâm đặc biệt và đã có những bổ sung, phát triển mới về các vấn đề văn hóa, con người, nguồn nhân lực chất lượng cao. Về văn hóa, Đại hội xác định, nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong tám đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xây dựng. Cũng tại Đại hội này, văn hóa được đặc thành một mục trong 12 mục lớn của Báo cáo chính trị và được đặc tên là “Chăm lo phát triển văn hóa” với nhiều nội dung và nhiệm vụ quan trọng.
Đại hội XI đã xác định: “Phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”. Các khái niệm chính của đề tài 1. Khái niệm Quản lý Hoạt động quản lý xuất hiện từ thuở bình minh của loài người và phát triển cùng với sự tiến bộ của xã hội.