phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở trƣờng mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở các trƣờng mầm non thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở các trƣờng mầm non thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã hình thành nên quan điểm con ngƣời phát triển toàn diện và coi quá trình giáo dục là thể thống nhất gồm ba mặt hữu cơ không thể tách rời là “Giáo dục trí tuệ - Giáo dục thể chất - Giáo dục kỹ thuật” đã khẳng định sự kết hợp giáo dục thể chất với các mặt khác không chỉ là một phƣơng tiện để nâng cao sản xuất xã hội mà còn là phƣơng thức duy nhất để tạo con ngƣời phát triển một cách toàn diện. Chủ nghĩa Mác- Lênin coi giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ và không thể thiếu đƣợc của giáo dục toàn diện và đặt ví trí giáo dục thể chất ngang hàng với các mặt giáo dục khác. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng tỏ ý nghĩa quan trọng của giáo dục thể chất nhƣ là một thành phần không chỉ của giáo dục nói chung mà của toàn bộ quá trình phát triển của con ngƣời, trong đó có việc đào tạo giáo viên trong sự nghiệp đổi mới của mỗi quốc gia.
Mác và Ăngghen rất xem trọng giáo dục thể chất và quân sự vì đó là một mặt nhằm đào tạo con ngƣời phát triển toàn diện, nó góp phần tích cực thúc đầy sự hoàn thiện trí tuệ, tâm hồn. Hai ông cũng cho rằng giáo dục thể chất và quân sự phải phù hợp với đặc điểm tâm lí, sinh lí lứa tuổi và ngoài các hình thức thể dục bình thƣờng, nên tăng cƣờng du lịch, kết hợp với tổ chức lao động, sản xuất hợp lí [17]. Péttxtalodi (1746-1827) ngƣời đƣợc mệnh danh là “Ông thầy của các ông thầy”, suốt cuộc đời ông dành cho sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục trẻ em nghèo và để lại cho đời nhiều lý luận giáo dục xuất sắc. Ông cho rằng mục đích của giáo dục là phát triển toàn diện, cân đối con ngƣời để tạo nên 9 công dân có ích cho xã hội.
Ông coi giáo dục thể chất là một trong những trung tâm trong hệ thống giáo dục của ông với mục đích làm phát triển và củng cố thể lực của trẻ em. Ông khuyên rằng ngƣời mẹ nuôi con cần phải thƣờng xuyên quan tâm đến việc phát triển thể chất của trẻ. Việc giáo dục thể chất cho trẻ phải đƣợc tiến hành bằng cách thực hiện những hoạt động đơn giản trong trong cuộc sống hằng ngày. Việc rèn luyện thân thể thƣờng xuyên chẳng những làm phát triển thể chất cho trẻ mà còn phát triển nhân cách và một bƣớc quan trọng để chuẩn bị cho trẻ vào cuộc sống lao động [17].
Lexgáp là nhà sáng lập lý luận giáo dục thể chất ngƣời Nga đã xây dựng cơ sở lí luận về giáo dục thể chất. Ông đã nghiên cứu hệ thống các bài tập thể chất cho trẻ, ý nghĩa vệ sinh và sức khoẻ của bài tập thể chất. Ông cho rằng, cơ sở để lựa chọn bài tập thể chất là phải tính đến những đặc điểm giải phẫu sinh lí và tâm lí, mức độ khó dần và đa dạng của các bài tập thể chất. Ông cũng cho rằng sự phát triển thể chất ảnh hƣởng đến sự phát triển toàn diện của con ngƣời nhƣ sự phát triển về trí tuệ, đạo đức thẩm mĩ và hoạt động lao động.
Ông coi trọng giáo dục thái độ tự giác của trẻ trong quá trình giáo dục thể chất và yêu cầu ngƣời giáo viên cần tăng dần mức độ chịu đựng cơ thể trẻ và đa dạng các bài tập thể chất cho trẻ. Ông cũng nghiên cứu lí luận và phƣơng pháp tiến hành trò chơi vận động, thông qua trò chơi vận động góp phần phát triển nhân cách cho trẻ em [13]. Krúpxkaia (1869 - 1939) cho rằng, giáo dục thể chất cho trẻ có ý nghĩa lớn, là nhiệm vụ quan trọng để phát triển thế hệ mai sau. Bà cũng xem trọng trò chơi vì nó góp phần phát triển thể chất cho trẻ và có vai trò tích cực trong giáo dục toàn diện cho con ngƣời [13].
Bƣcốpva đã có nhiều đóng góp trong lĩnh vực lí luận và thực tiễn giáo dục thể chất cho trẻ mầm non với các tác phẩm "Rèn luyện cơ thể trẻ" và "Sự phát triển vận động cơ bản của trẻ mầm non" [13]. Khuckhlaieva đã viết cuốn sách, "Lý luận và phƣơng pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non". Đây là sự đúc kết của hàng trăm công trình nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục thể chất cho trẻ mầm non [13]. Các nghiên cứu trong nước Trong hệ thống giáo dục Việt Nam, giáo dục thể chất đƣợc xem là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện.
Giáo dục thể chất là một mắc xích quan trọng trong hệ thống giáo dục mà mỗi ngƣời đều cần đến ngay từ lứa tuổi mầm non. Chƣơng trình giáo dục thể chất cho trẻ giúp trẻ phát triển toàn diện các hệ cơ quan trong cơ thể, cũng nhƣ hoàn thiện về nhận thức và nhân cách. Khi có một cơ thể khỏe mạnh sẽ giúp cho trẻ dễ dàng tiếp thu kiến thức và nhận biết thế giới xung quanh dễ dàng hơn. Có nhiều công trình ở Việt Nam nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục thể chất cho trẻ mầm non nhƣ: Tác giả Hoàng Thị Bƣởi (2001) với cuốn sách Phƣơng pháp giáo dục thể chất trẻ em, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tác giả đã nghiên cứu những quy luật riêng, cụ thể hóa quá trình giáo dục với những phƣơng hƣớng cụ thể, chỉ rõ mục đích, nhiệm vụ, phƣơng tiện; Đặt ra các nguyên tắc và phƣơng pháp giáo dục thể chất; Nghiên cứu các hình thức giáo dục thể chất mang lại hiệu quả cho quá trình tập luyện. Giáo trình Lý luận và phƣơng pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non của tác giả Đặng Hồng Phƣợng (2008) đề cập đến hai vấn đề, đó là lý luận giáo dục thể chất và quá trình giáo dục thể chất cho trẻ ở trƣờng mầm non. Giáo trình đã trình bày đầy đủ về nhiệm vụ, nguyên tắc, nội dung, phƣơng pháp, hình thức, phƣơng tiện giáo dục thể chất cho trẻ mầm non và tổ chức công tác giáo dục thể chất cho trẻ ở trƣờng mầm non. Đặng Hồng Phƣợng (2012) với giáo trình Phƣơng pháp hình thành 1 kỹ năng vận động cho trẻ mầm non đã đề cập đến ba vấn đề chủ yếu; Cơ sở lý luận của phƣơng pháp hình thành kỹ năng vận động cho trẻ mầm non, hệ thống phƣơng pháp và quá trình hình thành kỹ năng vận động cho trẻ mầm non.
Nguyễn Văn Bính (2017), Quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh theo định hƣớng phát triển năng lực ở các trƣờng trung học phổ thông huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên. Nguyễn Bích Ngọc (2017), Quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở Trƣờng Mầm non Hoa Sữa, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đai học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nguyễn Hồ Hoàng Yến (2019), Quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở các trƣờng mầm non công lập huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Thị Tuyết (2020), Quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở các trƣờng mầm non huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ, Học Viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Nguyễn Thị Nhàn (2021), Quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ tại Trƣờng mầm non Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục thể chất và quản lý hoạt động giáo dục thể chất. Đồng thời, đã nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thể chất tại các trƣờng mầm non và đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này tại các trƣờng mầm non. Tuy nhiên, chƣa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này tại các trƣờng mầm non thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Do đó, luận văn tiến hành nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở các trƣờng mầm non thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Từ đó, 1 đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở các trƣờng mầm non thành phố Quy Nhơn. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1.
Quản lý Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý là một dạng hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi ngƣời. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhƣ: Theo F.Taylor (1856-1915) ngƣời đƣợc coi là “cha đẻ của Thuyết quản lý khoa học”, một trong những ngƣời mở ra “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý đã thể hiện tƣ tƣởng cốt lõi của mình là “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ”. Ông cho rằng “Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” [22].
Theo Henri Fayol thì “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [21].