CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Với mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh theo phương thức kết hợp ba môi trường giáo dục NT-GĐ-XH bằng các hình thức giáo dục ngoài giờ học trên lớp và ngoài nhà trường – gọi chung là HĐGDNGLL; quản lý các hoạt động này được xem là rất quan trọng trong trường phổ thông thể hiện qua các quan điểm từ trước đến nay như sau: - Rabơle (1494-1553), một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp, đã có sáng kiến quản lý các hình thức giáo dục có nội dung “trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mĩ” ngoài giờ học ở lớp bằng việc tổ chức các buổi tham quan xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày để trải nghiệm thực tiễn cuộc sống [7]. Ăng-ghen (1820 – 1895) đã xác định mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là đào tạo ra “con người phát 20 triển toàn diện”.
Muốn vậy, phải quản lý được phương thức giáo dục hiện đại là quản lý các HĐGD kết hợp với lao động sản xuất” [33]. Ilina, nhà giáo dục Xô Viết của thế kỷ XX đã cho rằng quản lý các HĐGD ngoài giờ học với mục đích bổ sung và làm sâu hơn công tác giáo dục nội khóa; trước tiên, nó là phương tiện để phát hiện đầy đủ năng lực học sinh, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của các em đối với hoạt động nào đó và cũng là hình thức tổ chức giải trí cho các em, là cơ sở để quản lý việc thực tập về hành vi đạo đức để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này” [7]. - Ngày nay, trong hệ thống giáo dục ở các nước trên thế giới, quản lý các HĐGD nằm ngoài chương trình chính khóa có các tên gọi như “Hoạt động ngoại khóa”, “Hoạt động sau giờ học hoặc bên ngoài lớp học”, “Cuộc sống bên ngoài lớp học” được gọi chung là hoạt động ngoại khoá (HĐNK) đang được các nhà QLGD quan tâm vì được đánh giá là các hoạt động mang tính toàn diện và đạt hiệu quả giáo dục cao. Đây là những HĐGD có chương trình cụ thể bắt đầu từ lớp bốn ở tiểu học đến các khối lớp ở trung học cơ sở (THCS), THPT và cao đẳng, đại học bao gồm các hoạt động đa dạng ở nhiều lĩnh vực như học thuật, TDTT, xã hội, từ thiện, dịch vụ cộng đồng, các công việc tự nguyện, sở thích,… đang được quản lý trong các nhà trường theo các phương thức khác nhau (tự nguyện hay bắt buộc) tùy vào cách thức tổ chức, nội dung chương trình và tính chất của các hoạt động.
Trong các hoạt động này, học sinh chủ động tổ chức các hoạt động dưới sự quản lý và tư vấn của các giáo viên qua một số hoạt động điển hình như [46, 57, 70]: Hoạt động nghệ thuật - âm nhạc: sân khấu, đồng ca, đơn ca, ban nhạc, lời động, múa, hội họa, nhiếp ảnh, sáng tạo văn bản và các hoạt động sáng tạo khác thông qua trường học, nhà thờ, cộng đồng hoặc nhóm cá nhân. 21 Hoạt động TDTT: bóng đá, bóng chày, khúc côn cầu, thể dục nhịp điệu, khiêu vũ, bơi lội, bóng đá, trượt tuyết, cổ vũ,… được tổ chức trong nhà trường hoặc ngoài cộng đồng. Hoạt động phương tiện truyền thông: truyền hình địa phương, phát thanh và truyền hình học đường, nhân viên kỷ yếu, tạp chí văn học, tờ báo của trường học, của địa phương, viết nhật ký trực tuyến và các công việc khác liên quan đến thực hiện các chương trình, bộ phim truyền hình, hiển thị hoặc xuất bản (dưới hình thức trực tuyến hoặc in ấn). Hoạt động quản trị: Ban quản trị sinh viên, ban tư vấn, ủy ban, hội sinh viên – học sinh, hội đồng quản trị thanh niên cộng đồng,… Hoạt động thuộc về sở thích - câu lạc bộ: các hoạt động thuộc về đam mê và sáng tạo như chế tạo tên lửa, đường xe lửa mô hình, các hoạt động sưu tầm, viết nhật ký điện tử (blog), câu lạc bộ (CLB) chơi cờ, học thuật Toán, thử nghiệm mô hình, hùng biện, âm nhạc, trò chơi, ngôn ngữ,… Hoạt động Giáo Hội tiếp cận cộng đồng: các hoạt động giúp người cao tuổi, phục vụ các bữa ăn tối nhẹ cho cộng đồng, tổ chức sự kiện, bảo trợ các hoạt động có liên quan đến nhà thờ.
Hoạt động quân đội: các hoạt động liên quan đến quân đội. Hoạt động tình nguyện và dịch vụ cộng đồng: các hoạt động giúp cộng đồng (có thể của riêng cộng đồng, không phải của trường học) nhưng không được phép thu tiền như dịch vụ cư trú nhân đạo, dạy kèm và cố vấn, hoạt động tiếp cận, gây quỹ cộng đồng, làm việc ở bệnh viện, cứu hộ động vật, công việc điều dưỡng tại nhà, nhân viên phòng phiếu, nhân viên lễ hội, tình nguyện viên phòng cháy chữa cháy, sửa chữa cầu đường,. Khi nghiên cứu về công tác quản lý các HĐNK của học sinh THPT, Kimiko Fujita – thạc sĩ QLGD Nhật Bản đã nhận định: ở Hoa Kỳ trước năm 1900, các nhà QLGD đã cho rằng công tác quản lý các HĐNK sẽ gặp khó khăn vì HĐNK chỉ là một kiểu phong trào nhất thời và sau đó sẽ tự mai một theo thời gian. Họ còn hoài nghi về nhu cầu tham gia HĐNK của học sinh vì tin rằng "Trường học chỉ nên tập trung đơn thuần vào quản lý các vấn đề học 22 tập và kết quả học tập trên lớp”; những hoạt động nào không mang tính chất học thuật, chủ yếu là giải trí, được xem là gây hại đến thành tích học tập; vì thế không khuyến khích học sinh tham gia và nên đặt ngoài tầm kiểm soát của nhà trường [58].
Tuy nhiên, các chuyên gia nghiên cứu HĐNK ở Canada, đã chứng minh ngược lại rằng, quá trình quản lý các HĐNK trong nhà trường đã giúp các nhà QLGD có nhiều kinh nghiệm hơn trong các khâu lên kế hoạch, triển khai thực hiện và kiểm tra giám sát; đặc biệt là khâu tổ chức các hoạt động vì sự đa dạng của chúng và có thêm cơ hội mở rộng kiến thức cho chương trình học chính thức trong ngày cũng như tăng cường giáo dục toàn diện học sinh [72]. Một số các nghiên cứu khác cũng chứng minh được rằng học sinh và các nhà QLGD đã có một quan điểm tích cực hơn khi nhận thức được tác động tốt của HĐNK trong việc cung cấp kỹ năng sống và mang lại lợi ích cho thành tích học tập. Các nghiên cứu này còn cho thấy không chỉ tham gia vào các HĐNK mà việc chọn lựa loại hoạt động nào để tham gia cũng có tác động cụ thể đến kết quả học tập của học sinh; ví dụ, học sinh chơi thể thao, xem truyền hình và tham gia phục vụ cộng đồng sẽ cải thiện được thành tích học tập nhiều hơn là chơi một nhạc cụ. Điều này kết luận rằng HĐNK có ảnh hưởng tốt đến thành tích học tập và nếu được quản lý và định hướng ngay từ đầu để học sinh lựa chọn tham gia vào các loại hình hoạt động phù hợp với bản thân thì hiệu quả giáo dục sẽ tăng lên đáng kể [63].
Căn cứ vào khảo sát của một tổ chức xã hội tìm hiểu nhu cầu tham gia các HĐNK của thanh thiếu niên Mỹ dựa vào sở thích của họ năm 2008 (Biểu đồ 1.1) và một thống kê của Viện Giáo dục Khoa học – Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ năm 2010 (Biểu đồ 1.2) đã cho thấy một trong những kinh nghiệm để quản lý hiệu quả các HĐNK là phải tổ chức các loại hình hoạt động này phù hợp với nhu cầu của học sinh trong nhà trường. Thông qua kết quả khảo sát và thống kê nêu trên, đa số học sinh thích các hoạt động TDTT, kế đến là nghệ thuật, sinh hoạt CLB, các hoạt động hội đoàn và các hoạt động trí tuệ. Nếu xét về giới tính, nữ sinh thiên về chọn các HĐNK mang tính nghệ thuật và tôn giáo, còn nam sinh lại thích TDTT và các hoạt động tập thể; những HĐNK đòi hỏi vận 23 dụng trí tuệ thì cả nam và nữ đều quan tâm, nhưng số lượng nam sinh tham gia vẫn nhiều hơn [49, 50]. Gender differences in adolescents' participation in extracurricular activities Biểu đồ 1.1: Sự khác nhau về giới tính trong việc tham gia các hoạt động ngoại khóa của thanh thiếu niên (**p<0.2: Tỷ lệ học sinh trung học đã tham gia vào nhiều hoạt động ngoại khóa, theo loại hoạt động: 1990-2010, Nguồn ĐH Michigan (Viện NCXH, Giám sát tương lai, lựa chọn năm, 1990-2010 Cũng trong năm 2010, Viện Giáo dục Khoa học – Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ tiếp tục tìm hiểu về công tác quản lý các HĐNK và thống kê về tỷ lệ tham gia HĐNK theo loại hình hoạt động và giới tính, có bổ sung nội dung khảo sát kế hoạch học lên đại học của học sinh trung học cho thấy (Bảng 1.1): học sinh có kế hoạch học lên đại học sẽ tham gia HĐNK với tỷ lệ cao hơn nhiều so với học sinh không có kế 24 hoạch học lên đại học.
Ví dụ, trong số học sinh có kế hoạch học lên đại học có 43% tham gia vào thể thao, 37% tham gia vào các CLB hoạt động, 25% tham gia âm nhạc/ nghệ thuật biểu diễn khác, 17% tham gia vào các CLB học thuật, và 11% tham gia trong Hội học sinh/ chính phủ và trong một tờ báo/ Niên giám; trong khi đó những học sinh không có kế hoạch học lên đại học tham gia vào các HĐNK nêu trên chỉ chiếm tỷ lệ từ 25% đến 2%. Những con số này đã giúp ích rất nhiều cho các nhà QLGD lên kế hoạch quản lý các HĐNK và phối hợp với các LLXH để tổ chức các HĐNK đáp ứng nhu cầu của học sinh [50]: Bảng 1.