phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh trƣờng THCS Chu Văn An - Thanh Trì - Hà Nội. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh trƣờng THCS Chu Văn An - Thanh Trì - Hà Nội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CỞ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới. Hƣớng nghiệp học đƣờng và nghề nghiệp đã có lịch sử ra đời và phát triển với bề dày trên dƣới 100 năm trên thế giới và trên thực tế đã trở thành một lĩnh vực tác nghiệp chuyên môn và chính sách đƣợc tích hợp chặt chẽ trong các hệ thống giáo dục, đào tạo, lao động, việc làm, dịch vụ và chính sách của nhiều nƣớc trong khu vực cũng nhƣ trên thế giới. Trong hệ thống giáo dục, giáo dục THCS là giai đoạn học tập chính quy của đa phần thanh thiếu niên học sinh.
Giáo dục THCS không chỉ có mục tiêu chuẩn bị dạy kiến thức mà cần phải chuẩn bị cho học sinh bƣớc vào cuộc sống lao động xã hội. Họ phải đƣợc trang bị những tri thức khoa học kĩ thuật, kĩ năng lao động nghề nghiệp, năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật và những phát minh nhằm góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trên thực tế, lĩnh vực khoa học - kĩ thuật liên tục phát triển và thay đổi, đặc biệt là trƣớc xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nhƣ hiện nay, ngƣời lao động thƣờng không có khả năng để thích ứng kịp thời. Trong khi đó, số học sinh THCS khi còn ngồi ghế nhà trƣờng với vốn kiến thức “văn hoá chay” không có cơ sở và khả năng hội nhập vào cuộc sống lao động - xã hội.
Xuất phát từ thực tiễn nhƣ vậy, đã có các nhà tƣ tƣởng và giáo dục học tiến bộ đƣa ra những quan điể m giáo du ̣c gắn giáo dục với lao động nghề nghiệp, với cuộc sống. Vào giữa thế kỉ XIX, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hƣớng nghiệp chọn nghề”. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do sự phát triển công nghiệp. Ngay khi đó, ngƣời ta đã nhận thấy tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hoá vƣợt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng hiệu quả lao động trẻ tuổi.
Đến năm 1975, nƣớc Pháp tiến hành cải cách giáo dục nhằm vào hƣớng: tăng cƣờng giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đƣa giáo dục kĩ thuật vào để đảm bảo sự liên hệ giữa trƣờng học và đời sống, đồng thời vẫn giữ vững ý nghĩa của các môn xã hội và nhân văn, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng cƣờng tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hƣớng nghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp. Nội dung giáo dục HN trong trƣờng trung học của cộng hoà Pháp đƣợc phân hoá theo nhiều phân ban hẹp trong đó phần lớn là các ban kỹ thuật - công nghệ đào tạo kỹ thuật viên. Kế hoạch dạy học ở các chuyên ban kỹ thuật - công nghệ bao gồm nhiều môn văn hoá PT và kỹ thuật nghề nghiệp theo tỷ lệ khoảng 50/50. Việc cải cách chƣơng trình GD công nghệ ở Pháp nhằm hoàn thiện hệ thống GD kỹ thuật công nghệ ở tất cả các bậc học, làm cho nội dung GD công nghệ phù hợp với từng giai đoạn GD và trình độ phát triển khoa học kỹ thuật.
Tại Pháp, có hai loại nhân lực tƣ vấn hƣớng nghiệp: - Các nhà tƣ vấn - cố vấn hƣớng nghiệp (CO-conseillers d‟orientation). Những ngƣời này có phạm vi hoạt động giới hạn. Họ chỉ đƣợc làm các công việc tƣ vấn hƣớng nghiệp ở những cấp độ thông thƣờng mà ngƣời ta thƣờng gọi là tƣ vấn vòng ngoài. - Các nhà tƣ vấn tâm lý hƣớng nghiệp (COP- conseillers d‟orientation psycologues).
Họ đƣợc quyền thực hiện các nghiệp vụ tâm lý hƣớng nghiệp chuyên sâu (tƣ vấn vòng trong). Họ hỗ trợ trực tiếp cho việc ra quyết định lựa chọn ngành học, nghề nghiệp của cá nhân. Các CO và COP đƣợc đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề quốc gia. Hiện nay, tại Pháp có 4 trung tâm độc quyền đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề quốc gia cho CO và COP, trong đó INETOP (Viện nghiên cứu quốc gia về lao động và hƣớng nghiệp) thuộc CNAM (Học viện quốc gia về nghệ thuật và nghề nghiệp) tại Paris đào tạo khoảng 47% CO và COP cho toàn nƣớc Pháp).
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cùng với giáo viên và phụ huynh học sinh, các nhà tƣ vấn hƣớng nghiệp tổ chức thƣờng xuyên các đợt kiểm tra, các trắc nghiệm tâm lí, kiến thức, trên cơ sở đó đƣa ra cho học sinh những lời khuyên xác đáng, hƣớng học sinh vào con đƣờng thành công. Ở Liên bang Nga hƣớng nghiệp đƣợc thực hiện nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự chọn nghề của học sinh, giúp các em tự thể hiện nhân cách trong điều kiện quan hệ thị trƣờng, tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con ngƣời, chỉ rõ nhu cầu của thị trƣờng lao động, không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân nhƣ là điều kiện quan trọng nhất để thoả nguyện yêu cầu phát triển của con ngƣời trong lao động. Ở Nhật Bản, công trình “Cải cách giáo dục Nhật Bản hƣớng tới thế kỉ 21” của Magumi Nishino (Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản) đã nghiên cứu khá sâu sắc vấn đề bồi dƣỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông. Theo tác giả, học sinh trung học phải đƣợc: Bồi dƣỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn nghề tƣơng lai phù hợp với mỗi cá nhân.
Từ lâu, giáo dục Nhật Bản đã chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh phổ thông. Trong vòng 30 năm từ 1952 - 1982 nhiều cuộc cải cách giáo dục đã đƣợc tiến hành, với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nƣớc. Trong đó, nhiều biện pháp đã đƣợc áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo nghề nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trƣờng tiểu học và trung học cơ sở. Có khoảng 27,9% số trƣờng phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngƣ nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ vv… Sau cấp II có đến 94% học sinh vào cấp III, trong đó 70% học sinh theo học loại hình trƣờng PT cơ bản và 30% HS theo hƣớng học nghề.
Ở Cộng hoà liên bang Đức, ngƣời ta cũng quan tâm đến nội dung, phƣơng pháp, hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp, tổ chức cho học sinh phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, ở các cơ sở kinh doanh - dịch vụ. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trƣờng phổ thông, nội dung giảng dạy kỹ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chƣơng trình GD. Hết cấp II học sinh sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên nghiệp. Các trƣờng kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trƣớc rồi mới chọn HS theo luồng phổ thông.
Trung Quốc khuyến khích GD suốt đời một cách tích cực. Hiện nay, GD dựa trên cộng đồng đang đƣợc phát triển mạnh mẽ. Trong chƣơng trình giảng dạy thƣờng có các môn học tự chọn với mục tiêu trang bị cho HS những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết để HS có khả năng tham gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học. - Khu vực các nƣớc ASEAN trong những năm qua đã và đang tăng cƣờng GDHN cho học sinh phổ thông : Tại Philippin: Một trong những mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo nguồn nhân lực với trình độ tay nghề cần thiết để có thể lựa chọn nghề.
Chính vì thế mà ở cấp II đã thực hiện giáo dục nghề nghiệp, và chuẩn của học sinh là phải đạt đƣợc những kiến thức, kĩ năng, thông tin nghề nghiệp và tinh thần làm việc tối thiểu cần thiết để có thể chọn nghề. Sang cấp III tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể nhƣ hƣớng nghiệp - dạy nghề. Tại Thái Lan: Ngay từ Tiểu học đã trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công. Sang cấp II đẩy mạnh công tác GDHN gắn với một nghề trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh, đây là bƣớc tiền đề cho học sinh vào cấp III.
Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với hƣớng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp, tất cả các trƣờng phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ đƣợc cấp chứng chỉ nghề. - Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỉ XXI của UNESCO khi phân tích “ Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại ", đó là 4 trụ cột mà Uỷ ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục. Theo tác giả vấn đề GDHN và học nghề của học sinh là một vấ n đề 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com căn bản không thể thiếu đƣợc trong giáo dục. Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức.