phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Vấn đề giới tính và giáo dục giới tính đƣợc con ngƣời quan tâm nghiên cứu đã từ rất lâu. Từ thời Cổ đại, giới tính là đề tài bị coi là ghê tởm và không đƣợc phép đề cập trực tiếp. Dấu tích về giới tính và những hoạt động liên quan đến giáo dục giới tính không hề đƣợc lƣu lại trên hài cốt đƣợc khai quật vì vậy nó đặt ra nhiều thách thức đối với giới khảo cổ. Những mô tả về giới tính dƣờng nhƣ vắng bóng trong các hiện vật văn hóa và chỉ đƣợc khắc họa bằng hình vẽ, tuy nhiên ý nghĩa của nó lại chủ yếu đƣợc diễn giải theo suy luận của con ngƣời hiện đại.
Muốn xác định rõ thông điệp mà cộng đồng cổ đại nhắn nhủ qua các hình ảnh này, giới khoa học chỉ còn cách dựa vào nguồn văn chƣơng cổ.Tuy nhiên, vấn đề càng thêm phức tạp khi các ghi chép văn chƣơng dƣờng nhƣ không mang tính đại diện cho toàn xã hội mà chỉ xuất phát từ góc nhìn riêng của tác giả. Tất cả sự thiếu thốn thông tin khiến hiểu biết về giới tính cổ đại vẫn còn là một đề tài nhiều tranh cãi [13]. Cho đến khi có sự xuất hiện của bộ môn Giải phẫu và Sinh học thì công tác nghiên cứu các vấn đề về giới tính và giáo dục giới tính mới thật sự đƣợc tiến hành.Vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, các đề tài về giới tính đƣợc các nhà hoa học nhƣ là J. Đầu thế kỉ XX, xuất hiện một số quan điểm sinh học về vấn đề giới tính, những nghiên cứu về giới tính và tình dục phát triển mạnh nhằm giáo dục giới tính trên cơ sở khoa học.
8 Vào năm 1926, tại Hà Lan nhà khoa học T.Van de Velde đã cho ra đời cuốn “Hôn nhân hiện đại”. Đây là cuốn sách khoa học hiện đại đầu tiên về sinh lí học trong hôn nhân, nó đã góp phần nâng cao vị trí của ngƣời phụ nữ trong gia đình và đòi hỏi quyền bình đẳng của họ [16]. Tại Mỹ, các vấn đề về tình dục và giới tính đƣợc quan tâm nghiên cứu vào những năm 1921. Đã có nhiều nhà khoa học tham gia nghiên cứu về lĩnh vực này, tiêu biểu là H.Kingsey cùng các đồng nghiệp của mình.Johnson tiếp tục nghiên cứu công trình này và công bố kết quả vào năm 1966 [11].
Cho đến nay, chƣơng trình giáo dục giới tính tại Mỹ đƣợc phân theo các cấp học. Tuy nhiên không có một chƣơng trình giáo dục quốc gia cụ thể mà quyết định giáo dục giới tính đƣợc trao cho các bang và quận. Bên cạnh đó, giáo dục giới tính tại gia đình cũng đƣợc phụ huynh đặc biệt quan tâm. Thuỵ Điển là một trong những quốc gia tiên phong trong việc giáo dục giới tính cho trẻ em.
Những chƣơng trình giáo dục giới tính cho học sinh đã đƣợc Thuỵ Điển triển khai từ năm 1942. Một trong số đó là “Giáo dục phòng tránh thai”- chƣơng trình giáo dục giới tính đầu tiên đƣợc công nhận tại một trƣờng học. “Giáo dục phòng tránh thai” đƣợc đƣa vào giảng dạy cho trẻ em từ 7 tuổi trở lên nhằm trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về mang thai và sinh con. Khi lên bậc trung học, các học sinh sẽ đƣợc học về đặc tính sinh lý của nam và nữ.
Năm 1966, Thụy Điển đã chính thức đƣa “Giáo dục phòng tránh thai” và nhiều hoạt động khác về giáo dục giới tính lên truyền hình, phá vỡ sự ngại ngùng cho phụ huynh khi trò chuyện với con em về vấn đề này [11]. Tại Hà Lan, giáo dục giới tính đƣợc đƣa vào giảng dạy từ rất sớm. Thậm chí, trẻ em bậc tiểu học ở nƣớc này còn đƣợc học những bài học về tôn trọng những ngƣời chuyển đổi giới tính, lƣỡng tính hay đồng tính. Bên cạnh đó, chủ đề giáo dục giới tính đƣợc các gia đình đề cập đến rất thƣờng xuyên 9 trong những lúc quây quần bên nhau.
Có lẽ nhờ phƣơng pháp giáo này mà Hà Lan luôn đƣợc ca ngợi là một trong những quốc gia đi đầu về giáo dục giới tính. Hà Lan còn đƣợc đánh giá là đất nƣớc có tỉ lệ trẻ mang thai ở độ tuổi VTN thấp nhất trên thế giới (khoảng 0,5%) [11]. Ở châu Á, chƣơng trình GDGT ở các nƣớc cũng đang có các mức độ rất khác nhau. Các quốc gia nhƣ Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc cũng có những chính sách về giảng dạy giới tính tại trƣờng học.
Malaysia, Philippines và Thái Lan thiên về giáo dục sức khoẻ sinh sản trong khi Ấn Độ lại có chƣơng trình với mục tiêu hƣớng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi. Tại Singapore, tất cả các cấp học đều có chƣơng trình GDGT của Bộ giáo dục. Tại cấp tiểu học, trẻ em đƣợc dạy về việc phát triển cơ thể và cách xây dựng các mối quan hệ lành mạnh. Tại trung học và sau đó, học sinh đƣợc dạy về sức khỏe và hành vi tình dục cũng nhƣ cách phòng tránh bệnh lây qua đƣờng tình dục [11].
Vào những năm cuối của thế kỉ XX, giáo dục Việt Nam còn chịu nhiều ảnh hƣởng của văn hóa truyền thống, đặc biệt là truyền thống phƣơng Đông đã ăn sâu và làm ảnh hƣởng đến tâm lý của nhiều bậc phụ huynh, họ coi giới tính là vấn đề nhạy cảm, là vùng“cấm địa” không đƣợc chia sẻ với con. Trong khi đó, giáo dục giới tính trong nhà trƣờng cũng chƣa thật sự phù hợp với sự phát triển tâm, sinh lý sớm của học sinh, nội dung vẫn còn chung chung, không thiết thực. Các thầy cô giáo và các tổ chức xã hội thì không đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính để có thể giáo dục và chia sẻ với các em. Chính những lỗ hổng đó đã làm cho học sinh Việt Nam thiếu hụt một cách trầm trọng kiến thức về giới tính và để lại những hậu quả vô cùng đáng tiếc [11].
Tuy nhiên, sau khi chỉ thị 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng nêu rõ: “Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chƣơng trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dƣỡng cho học sinh 10 những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái” thì công tác GDGT cho học sinh, sinh viên đƣợc nhà trƣờng, các cơ quan và các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm rộng rãi. Từ năm 1985, nhiều nội dung, khía cạnh của hoạt động giáo dục giới tính đƣợc các nhà khoa học nhƣ là Trần Trọng Thuỷ, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức, Đặng Xuân Hoài. đầu tƣ nghiên cứu. Sau khi các công trình đƣợc công bố đã góp phần làm cơ sở cho hoạt động giáo dục giới tính tại Việt Nam[7].
Ngày 4 tháng 8 năm 2008, Thủ tƣớng Chính phủ đã ra Chỉ thị Số 23/2008/CT-TTg “Về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình”. Chỉ thị đã chỉ rõ nhiệm vụ của bộ GD&ĐT là triển khai có hiệu quả hoạt động GD dân số, sức khỏe sinh sản, giới và giới tính trong và ngoài nhà trƣờng. Chính vì vậy cần tập trung xây dựng, quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở các trƣờng và những ngƣời trực tiếp tham gia giáo dục giới tính có đủ phẩm chất và trình độ chuyên môn vững vàng nhằm nâng cao cao chất lƣợng giáo dục giới tính nói riêng và chất lƣợng giáo dục Việt Nam nói chung. Ngày 22 tháng 11 năm 2019 Thủ tƣớng Chính phủ đã ra Quyết định Phê duyệt Chiến lƣợc Dân số Việt Nam đến năm 2030, trong đó chỉ rõ nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới là chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan đổi mới nội dung, phƣơng pháp giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, giới, bình đẳng giới và giới tính theo định hƣớng của Chiến lƣợc[28].
Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến giới tính nhƣ là: đề tài luận văn tốt nghiệp: “Tìm hiểu sự nhận thức và quan tâm của học sinh THPT về các vấn đề giới tính” của Nguyễn Văn Phƣơng(1994); đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở các trƣờng THCS tại huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dƣơng và một số giải pháp” của Đỗ Hà Thế Bình (2007); luận văn thạc 11 sĩ luật học: “ Bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân- gia đình Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoàng Giang (2014);luận án tiến sĩ: “Quyền của ngƣời đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Trƣơng Hồng Quang (2019). Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Giới tính Căn cứ vào Hiến pháp nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật Bình đẳng giới của Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 10 số 73/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 đã giải thích một số khái niệm nhƣ sau: - Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội; - Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ; Giới tính là khái niệm đề cập tới những đặc tính về mặt sinh học của nam giới và nữ giới mà cho phép xác định một cá nhân thuộc về giống đực hay giống cái. Sự khác nhau này có ngay từ lúc một con ngƣời đƣợc sinh ra (trừ trƣờng hợp dị thƣờng).
Sự khác biệt giới tính rõ ràng nhất đó là việc có kinh nguyệt, mang thai, cho con bú của phụ nữ và việc tạo ra tinh trùng của nam giới.