Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐ của học sinh trường Tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TIỂU HỌC 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Theo quan điểm của học thuyết Mác – Lênin : Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ảnh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo. Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc. Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy định, chuẩn mực nhằm hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu … Các chuẩn mực đạo đức xuất hiện do nhu cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định.
Bất kỳ trong thời đại nào, đạo đức con người cũng được đánh giá theo khuôn phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức. Đạo đức là sản phẩm của xã hội, cùng với sự phát triển của sản xuất, các mối quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn. Ở phương Tây, thời cổ đại, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc.
Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học [10, tr. Khổng Tử (551-478 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc. Ông xây dựng học thuyết “Nhân- Lễ- Chính danh”, trong đó, “Nhân”- Lòng thương người- là yếu tố hạt nhân, là yếu tố cơ bản nhất của con người. Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, Ông có câu nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”[10, tr.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thế kỷ XVII, Komemxky- Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”. Komemxky đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và bên ngoài để GDĐĐ cho HS [23]. Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu về GDĐĐ HS như: A.A Xukhomlinxky… Nghiên cứu cho việc GDĐĐ mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô. Ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và GDĐĐ cho cán bộ, HS.
Bác cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng. Bác cũng căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, HS thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng’’ vừa “chuyên”. Từ sau cách mạng tháng 8/1945 và trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nền GD nhà trường của chúng ta luôn thấu triệt tư tưởng GDĐĐ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, chính vì thế mà sản phẩm của nền GD Việt Nam giai đoạn này là những người có đức, có tài, hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ lý tưởng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngày nay trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập toàn cầu, thực hiện CNH- HĐH đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề GDĐĐ.
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ V ban chấp hành TW khóa VIII (07/1998). Đảng ta đã xác đinh chiến lược xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ X ban chấp hành trung ương TW khóa 9 (07/2004). Đảng ta tiếp tục xác định nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ mới đó là: “Đẩy mạnh giáo dục xã hội chủ nghĩa, bồi dưỡng lòng yêu nước, tạo sự chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực trí tuệ con người Việt Nam, đủ sức thực hiện thành công sự nghiệp CNH- HĐH đất nước”.
Đồng thời Hội nghị còn nhấn mạnh 2 trong 3 nhiệm vụ trọng tâm đó là: “tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống văn hóa lành mạnh trong xã hội…” và “nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam theo 5 đức tính được xác định trong nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII)” [8,tr. Đặc biệt là gần đây nhất, Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã phát động cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh”; Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã kịp thời phát động cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; Hai cuộc vận động lớn này đã và đang có những tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa, tinh thần của toàn xã hội, đến nền GD nước nhà, đặc biệt là công tác GDĐĐ cho học sinh. Từ vấn đề lí luận cũng như thực tiễn, GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ trong nhà trường đã rất được quan tâm. Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ trong nhà trường đã rất được quan tâm.
Trong đó có những công trình tiêu biểu như: Đề tài: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH” của tác giả Phạm Minh Hạc. Nghiên cứu của giáo sư đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH- HĐH; đồng thời đưa ra các giải pháp về GDĐĐ cho học sinh. Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các học giả trên đã đưa ra những vấn đề lý luận, hướng nghiên cứu và những định hướng rất cơ bản, quan trọng cho công tác GDĐĐ công dân và GDĐĐ cho HS. Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công phu.
Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiểm (Nxb Chính trị Quốc gia, 1997); Phạm Khắc Chương - Hà Nhật Thăng (Nxb Giáo dục, 2001); Giáo trình đạo đức học… Khi nghiên cứu về vấn đề GDĐĐ các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nội dung, phương pháp GDĐĐ và một số vấn đề về quản lý công tác GDĐĐ. Về mục tiêu GDĐĐ, Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: “Trang bị cho mọi người 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hóa xã hội. Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xẩy ra xung quanh. Tổ chức tốt giáo dục giới trẻ; rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành qui định của pháp luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước” [ 18,tr.
Để nâng cao chất lượng đạo đức trong thời kỳ đổi mới đó có một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác GDĐĐ. Tuy còn ít ỏi nhưng có thể kể đến: - Luận văn “Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh các trường trung học phổ thông Thành phố Hải Phòng” Trần Thị Quang (Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2003). - Luận văn “Biện pháp tổ chức phối hợp giữa gia đình với nhà trường và xã hội trong công tác GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông Huyện Mỹ Đức (Hà Tây) hiện nay” Bùi Đức Thảo (Khoa Sư phạm Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2008). - Luận văn “Các biện pháp quản lý công tác giáo dục của hiệu trưởng trường trung học phổ thông Tỉnh Hưng Yên” Đỗ Quang Hợp (Khoa Sư phạm, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2007).
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung GDĐĐ, định hướng các giá trị đạo đức, các biện pháp GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông. Đặc biệt, hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về những biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh Tiểu học Chí Linh nói riêng. Vì vậy tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường tiểu học Chí Linh - Quận phú nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh” với hy vọng đây là sự kế thừa cần thiết các nghiên cứu đi trước và cùng góp phần 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thêm công sức và sự vận dụng hệ thống lý luận quản lý giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ trường tiểu học Chí Linh, cũng như các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Một số khái niệm cơ bản 1.
Đạo đức và giáo dục đạo đức 1. Đạo đức Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng. Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [21, tr. Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người [17, tr.
Phạm Minh Hạc (2001), Về phát triển con người toàn diện thời kỳ Công nghiệp hóa -Hiện đại hoá, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn.