mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung cơ sở Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở trường PTDTNT huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở trường PTDTNT, tỉnh Bình Định. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THCS 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Các nghiên cứu nước ngoài Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, có vai trò quan trọng trong bất kỳ xã hội nào từ trước đến nay. Do đó, từ xa xưa con người đã rất quan tâm nghiên cứu đạo đức, xem nó như động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Trong lịch sử phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về đạo đức, Giáo dục đào tạo, quản lý Giáo dục đào tạo: Ở Phương Đông, Khổng Tử (551-479 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc. Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”, trong đó, “Nhân” - Lòng thương người - là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người.
Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức, Ông có câu nói nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”. Thế kỷ XVII, Komenxky - Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”. Komenxky đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và bên ngoài để GDĐĐ cho HS. Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo và tất cả những ai làm nghề nuôi dạy trẻ “Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính…” [[24], tr.
Theo ông, “con người sinh ra mà không được học, không được sự giáo dục của nhà trường và xã hội thì lớn lên ch212ẳng khác nào những cây mọc hoang dại, sẽ không có khả năng hành động theo đúng mục tiêu của lẽ sống, sẽ không nhìn rõ cái thiện và dễ xa vào cái ác, cái tội lỗi…” [[24], tr. Thế kỷ XX, A. Macarenco (1888-1939) nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu về GDĐĐ học sinh, ông nêu lên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể. Trong tác phẩm “Bài ca sư phạm” ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò 8 của giáo dục đạo đức.
Nghiên cứu của ông đã đặt nền tảng cho việc Giáo dục đào tạo tạo ra những con người mới trong giai đoạn xây dựng CNXH Liên Xô. Ông khẳng định “Nhà giáo dục hiểu biết HS không phải trong quá trình nghiên cứu HS một cách thờ ơ mà trong chính quá trình làm việc với HS và trong chính sự giúp đỡ HS một cách tích cực. Nhà giáo dục phải xem xét HS không phải như là đối tượng nghiên cứu mà là đối tượng giáo dục. Hồ Chí Minh (1956).
Bài nói chuyện của Bác tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp 1. Những trẻ em có những biểu hiện yếu kém về đạo đức, đặc biệt là không có nhu cầu xã hội lành mạnh, sống thiếu niềm tin, kém ý chí, thiếu sự quan tâm của cha mẹ. thì thường rơi vào tình trạng học tập yếu kém. Macarenco đã từng nhắc nhở các nhà sư phạm: “Dù sao chúng vẫn là con người phải đối xử với chúng với tư cách là con người hướng về tương lai.
Với giả thuyết lạc quan và phải dứt bỏ quá khứ, những tiền sử không lấy gì làm tốt đẹp của chúng trong đầu các nhà sư phạm, những cái đó không có lợi cho trẻ nhỏ đang sống và đang được giáo dục hiện tại”. Theo học thuyết Mác - Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng XH, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại XH. Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo. Do vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống XH, trong đời sống của con ngƣời, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển: “Đạo đức đã trở thành mục tiêu, đồng thời cũng là động lực để phát triển XH” [[7], tr.47] và “Đạo đức cũng như ý thức đã là sản phẩm XH và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [[7], tr. Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470 -399 TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau, có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết, chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Vì vậy, giáo dục con người chủ yếu là phải GDĐĐ. Hônbách (1723 - 1789) người đã khái quát và hệ thống hoá tư tưởng tiên tiến của chủ nghĩa duy vật Pháp, ông cho rằng: “nhiệm vụ chính của đạo đức là vạch cho được những điều kiện trong đó lợi ích cá nhân là cơ sở tất yếu của hành vi con người có thể dung hợp với lợi ích XH”.
Nguyễn Tiến Dũng, Lịch sử Triết học phương Tây. NXB Tổng hợp TPHCM. 9 Như vậy có thể thấy cả ở phương Đông lẫn phương Tây đều rất chú trọng đề cao vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức qua đó hình thành và phát triển nhân cách của con người. Các nghiên cứu trong nước Trong truyền thống giáo dục của dân tộc, cha ông ta luôn đề cao nguyên tắc: “Tiên học lễ, hậu học văn”, đề cao truyền thống yêu nước, nhân đạo, thủy chung, tương thân tương ái, luôn coi trọng chữ Đức.
Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một việc làm rất cần thiết và cực kỳ quan trọng. Từ xa xưa ông cha ta đã quan niệm việc "dạy chữ" phải song song với việc "dạy người". Sinh thời Bác Hồ đã rất quan tâm đến giáo dục đạo đức trong nhà trường. Bác Hồ đã từng nói: " Dạy cũng như học, phải biết coi trọng cả đức lẫn tài.
Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng" [[30], tr. Bác khẳng định: “Đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nước thì sông sẽ cạn” [[30]. Người cũng lưu ý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà có, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [[27], tr. Vì vậy, trong nhà trường phải dạy cho thanh thiếu niên biết “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; học tập tốt, lao động tốt; đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; giữ gìn vệ sinh thật tốt; khiêm tốn, thật thà dũng cảm”.
Kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh, ở nước ta đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức như Phạm Minh Hạc, Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, Đặng Quốc Bảo… Các tác phẩm đề cập sâu về các phạm trù đạo đức, các vấn đề giáo dục đạo đức và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông, xây dựng con người mới XHCN; còn quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh được đề cập rất sơ lược, chủ yếu là lồng ghép trong các phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh. Tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng trong cuốn sách “Đạo đức học” (Nhà xuất bản giáo dục, 1998) đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức nhằm giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học sinh. Các tác giả đã bàn nhiều về các vấn đề giáo dục đạo đức như phạm trù giáo dục trong đạo đức gia 1 đình, đạo đức trong tình bạn, tình yêu…từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông [[9]]. Về mục tiêu GDĐĐ, tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: “Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hoá XH.
Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin ĐĐ trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh. Tổ chức tốt GD giới trẻ; rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực ĐĐXH, có thói quen chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” [[18], tr. Đồng thời tác giả Phạm Minh Hạc cũng nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kì CNH, HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản GDĐĐ cho con người Việt Nam thời kì CNH, HĐH: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho con người, kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ đảng viên, cho thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ, nâng cao nhận thức cho mọi người” [[18], tr. Để nâng cao chất lượng GDĐĐ trong thời kỳ đổi mới đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác GDĐĐ.
Tuy số lượng các nghiên cứu trong lĩnh vực này còn ít nhưng có thể kể đến: Tác giả Đặng Quốc Bảo đã khẳng định: “Các gia đình, các nhà trường, các đoàn thể trong xã hội ta thời gian qua đã có rất nhiều cố gắng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, cho các thành viên.