CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông 1. Nghiên cứu nước ngoài Quản lý nhằm phát triển ĐNGV đã có nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập như: Theo Hanry Koontz, một nhà quản lý người Mỹ; ông cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó đảm bảo những nỗ lực nhằm phối hợp cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất.
Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [ 25, tr. 33 ] Khi đề cập đến phát triển ĐNGV, một số nghiên cứu gần đây đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững và sự thích ứng nhanh của giáo viên. Với sự xuất hiện của các công nghệ dạy học hiện đại, sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, yêu cầu về vai trò và chức năng của người thầy càng trở nên cấp thiết. Vấn đề đặt ra là giáo viên phải thích ứng cao trước yêu cầu đổi mơi.Beerens đã chủ trương tạo ra một nền văn hóa của sự thúc đẩy, có động lực và luôn học tập trong đội ngũ; coi đó là giá trị mới, yếu tố chính tạo nên nhà giáo.
Ông cho rằng tính động trong tăng trưởng; giáo viên phải biết tự làm mới mình, để có thể đảm đương được nhiệm vụ. Nhà giáo theo ông trước hết phải là nhà chuyên môn, đồng thời nhà giáo phải là nhà lãnh đạo (trong hoạt động học tập của học sinh). Một số nghiên cứu của thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác phát triển Châu Âu) cũng đã chỉ ra 5 mặt chất lượng của nhà giáo gồm: Kiến thức phong phú về nội dung chương trình và nội dung bộ môn dạy; kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp dạy học và về năng lực sử dụng những phương pháp đó; có tư duy phê phán trước mỗi vấn đề về năng lực tự phê, nét đặc trưng của 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề dạy học; biết tôn trọng và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đang có những chính sách quản lý ĐNGV.
Hoa kỳ là nước chú trọng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cải cách “mục tiêu 2000” về căn bản là cải cách về Chuẩn. Phần Lan với chính sách đào tạo tất cả giáo viên trong hệ thống giáo dục toàn diện tối thiểu phải tốt nghiệp từ thạc sỹ trở lên. Trung Quốc trao quyền mạnh mẽ tới các tỉnh thành, các vùng tự trị và các đặc khu hành chính để các cấp chính quyền có nhiều quyền hơn trong việc phát triển giáo dục cơ bản. Từ các công trình nghiên cứu trên, nhìn lại ở Việt Nam chúng ta thấy có công trình nào? 1.
Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu như: Bùi Minh Hiển – Vũ Ngọc Hải – Đặng Quốc Bảo trong quản lý giáo dục, tác giả đã đưa ra những yêu cầu chung về xây dựng phát triển ĐNGV trong một nhà trường phải chú ý đến các yêu cầu: đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu. Tác giả phân tích các chức năng quản lý trong phát triển ĐNGV từ việc lập kế hoạch – tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra phải đảm bảo các vấn đề về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Chính việc quan tâm 3 vấn đề: số lượng, chất lượng và cơ cấu của ĐNGV trong một nhà trường là điều kiện cần cho sự phát triển và cần chú ý đến tính đồng thuận của ĐNGV mới để tạo điều kiện đủ cho sự phát triển bền vững của đất nước. Các tác giả đã phân tích sâu nội dung về chất lượng và chất lượng giáo dục.
Đây là vấn đề cần được nghiên cứu trong thực tiễn quản lý ĐNGV trung học phổ thông hiện nay. Nguyễn Sĩ Thư đã đề cập đến chất lượng ĐNGV là tổng hòa những thuộc tính, những giá trị tạo nên ĐNGV. Những thuộc tính này gắn bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất tạo nên giá trị và sự tồn tại của đội ngũ làm cho giáo viên thực hiện được sứ mệnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của mình. Lê Khánh Tuấn trong các giải pháp phát triển ĐNGV trung học cơ sở trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả đã xác định giáo viên là yếu tố 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ bản, là “tế bào” của đội ngũ.
Tác giả đặt ra yêu cầu đối với người giáo viên là phải được Chuẩn hóa, hiện đại hóa để đạt các tiêu chuẩn về cá nhân. Trong phát triển đội ngũ phải đảm bảo tính xã hội hóa là cần có sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác bồi dưỡng, đào tạo giáo viên; đồng thời phải đảm bảo tính dân chủ hóa để phát huy trí tuệ của mỗi cá nhân trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự tu dưỡng để phát triển cá nhận. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Từ khi xuất hiện xã hội loài người, trước nhu cầu sinh tồn và phát triển, con người đã biết quy tụ thành bầy, thành nhóm.
Từ lao động đơn lẻ đến lao động phối hợp, phức tạp, con người đã biết phân công, hợp tác với nhau trong cộng đồng nhằm đạt được năng suất lao động cao hơn. Sự phân công, hợp tác đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành,…đó chính là hoạt động quản lý. Khi nói đến sự cần thiết của quản lý, coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội, Các – Mác đã viết: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên một quy mô tương đối lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của toàn bộ cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quản độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó.
Một nhạc sỹ độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [ 9, tr. 480 ] Với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ kinh tế, xã hội, giáo dục; các nhà khoa học trong và ngoài nước đã đưa ra những định nghĩa tương đối đồng nhất về khái niệm quản lý. Theo nhà khoa học người Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), người được hậu thế coi là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”, là người rất thành công trong quản lý sản xuất. Ông đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý: “Quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy xã hội phát triển”.
Ông 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Henry Fayol, nhà nghiên cứu người Pháp (1841 - 1925) cho rằng: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt mục tiêu của tổ chức”. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản lý, tùy theo các cách tiếp cận khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: “Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo), và kiểm tra” [ 11, tr.TS Đặng Quốc Bảo: Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, gắn kết với nhau. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định” ; quá trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”. Quản lý là ổn định và phát triển hệ thống. Người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống quản lý luôn được ở trạng thái “cân bằng động”.
Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô tả như một quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể, đối tượng quản lý để triển khai các chức năng nhiệm vụ của tổ chức và đạt được mục tiêu đề ra. Trong đó: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau; là các nhiệm vụ cần giải quyết để tổ chức thực hiện sứ mạng của mình… 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ… Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Quản lý có bốn chức năng chính, các chức năng của hoạt động quản lý được thực hiện liên tiếp, đan xen nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội cũng đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Trong lý luận quản lý giáo dục, khái niệm quản lý giáo dục được hiểu theo những cách hiểu khác nhau về giáo dục.