Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên theo bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên của trường Trung học phổ thông Tây Đô. Chương 3: Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp tại trường trung học phổ thông Tây Đô. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Quản lý đội ngũ giáo viên là một nhiệm vụ cơ bản của các cấp quản lý giáo dục trực tiếp là Hiệu trưởng đến sở giáo giáo dục và trên cùng là Bộ giáo dục và đào tạo. Trong những năm gần đây ngành giáo dục và đào tạo đang thực hiện đổi mới quản lý về mọi mặt, trong đó việc quản lý, đánh giá đội ngũ giáo viên được chuyển từ quản lý truyền thống sang quản lý theo chuẩn nghề nghiệp. Quá trình kiểm định chất lượng giáo viên cũng được thực hiện theo bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông mà bộ giáo dục đã ban hành kèm theo thông tư 30/2009/TT – BGDĐT ngày 22/10/2009. Từ khi có chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT, đã có một số nghiên cứu về vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên như: “Biện pháp quản lý giáo viên trường THPT Thịnh Long –Tỉnh Nam Định đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học” của tác giả Phạm Thị Ngọc, “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở trường THPT Việt Bắc tỉnh Lạng Sơn của tác giả Đặng Hồng Cường, “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp” của tác giả Nguyễn Quốc Nam,… Tuy vậy chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề Quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT Tây Đô theo chuẩn nghề nghiệp.
Do đó chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề tìm hiểu thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên ở trường THPT Tây Đô để từ đó đề xuất biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của trường theo bộ chuẩn nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ và chất lượng dạy học và giáo dục ở trường THPT Tây Đô. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm cơ bản về công tác quản lý đội ngũ giáo viên. Quản lý Sự tiến hóa của các tư tưởng quản lý từ thời tiền sử cho đến khi loài người bước vào một xã hội công nghiệp đã hình thành nên các lý thuyết về khoa học quản lý cỏ điển.
Các học thuyết quản lý cổ điển hiện nay vẫn đang tồn tại với ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn rất lớn. Đó là thuyết quản lý khoa học của Frederick Winslow TayLor “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học” xây dựng một khoa học về quản lý dựa trên bốn nguyên tắc quản lý. Việc vận dụng được thể hiện trong việc hợp lý lao động được áp dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả cao, việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ giúp thuộc cấp hoàn thành nhiệm vụ của họ, việc tuyển chọn và huấn luyện đội ngũ là yếu tố quyết định thành công trong quản lý. Đó là thuyết quản lý tổng quát hay thuyết quản trị của Henry Fayol (1841-1925) với định nghĩa “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động ( chức năng ) kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” đây là học thuyết quản lý có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của lý luận quản lý.
Quản lý bàn giấy là một hệ thống dựa trên các quy tắc, luật lệ, các thứ bậc, sự phân công lao động rõ ràng và các thủ tục khắt khe; lợi ích khi vận dụng thuyết này vào thực tiễn quản lý là tính hiệu quả và tính nhất quán chặt chẽ. Thập kỷ 20 đến 30 của thế kỷ XX, một trào lưu, một học thuyết quản lý đã ra đời đó là quan điểm hành vi. Người đại diện cho thuyết hành vi là Marry Parker Follett. Thuyết quản lý hành vi giúp cho người quản lý ứng xử có hiệu quả khi biện quyết những vấn đề nảy sinh trong tổ chức, hứng người quản lý xây dựng mối quan hệ làm việc tốt đẹp với người thuộc cấp.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Koontz (Người Mỹ): “ Quản lý là hoạt động đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức trong một môi trường và đối với những điều kiện nguồn lực cụ thể”. Theo quan điểm của Đặng Quốc Bảo: Quản lý được hiểu một cách đơn giản trên cơ sở chiết tự các thành tố cấu thành khái niệm này. Cụ thể: “Quản “ là sự coi sóc giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái ổn định, “lý” là sự sửa sang sắp xếp đổi mới. Quản lý là duy trì ổn định và đổi mới.
Đặc biệt, luôn có sự thống nhất biện chứng giữa quản và lý: trong quản (giữ) có lý (chỉnh sửa), trong lý (chỉnh sửa) có quản (giữ) [2, tr.1] Theo Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc giới thiệu định nghĩa kinh điển về quản lý là: “Hoạt động quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngưởi quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.1] Từ những ý chung của các khái niệm và xét quản lý với tư cách là một hoạt động có thể lấy định nghĩa quản lý mà hai tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc giới thiệu làm căn cứ nghiên cứu: “Quản lý là quá trình đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [13, tr. Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội do đó hoạt đông quản lý là những động tác phối hợp nỗ lực của mỗi cá nhân để nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức; Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng lại phù hợp với quy luật khách quan. Chức năng quản lý Quản lý phải thực hiện các chức năng khác nhau, mỗi chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất. Quản lý có các chức năng cơ bản cụ thể như sau : *) Kế hoạch hóa 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kế hoạch hóa là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý bao gồm: Dự báo, xác định mục tiêu, trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý.
Thực hiện chức năng kế hoạch hóa tạo ra tầm nhìn chiến lược cho các nhà quản lý, giúp cho việc phát triển và lựa chon chính xác các chương trình hành động phù hợp với các nguồn lực của hệ thống. Đồng thời chức năng kế hoạch hóa lạ căn cứ để hình thành và thức hiện các chức năng khác nhau như: Chỉ đạo, tổ chức, kiểm tra *) Tổ chức Tổ chức là xác định một cơ cấu nhất định vế vai trò nhiệm vụ hay chức vụ hay chức vụ được hợp thức hóa , thực chất nó là sự tổ chức công việc, sắp xếp con người nó chính là sự kết hợp, liên kết những bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống, hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất. Nội dung của chức năng tổ chức là việc thiết lập bộ máy quản lý, trong đó gồm 2 tiến trình cơ bản đó là: sự phân chia và sự phối hợp. Sự phân chia bao gồm: phân chia mục tiêu từ mục tiêu cơ bản thành các mục tiêu cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân; phân chia chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, phân chia thành từng cấp, từng khâu quản lý.
Sự phối hợp là tạo lập các mối quan hệ giữa các bộ phận đã được phân chia bao gồm quan hệ phối hợp ngang quyền; quan hệ cấp trên, cấp dưới. Sự phối hợp là cơ sở hình thành cơ chế vận hành tổ chức bộ máy và vận hành cả hệ thống. *) Lãnh đạo, chỉ đạo Chỉ đạo là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch và điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho bộ máy vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là tổ chức một cách khoa học lao động của cả tập thể người cũng như từng người để biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực.
Nội dung của việc chỉ đạo là điều hành công việc, động viên khuyến khích, giám sát tiến hành, đánh giá hoạt động và điều chỉnh, uốn nắn các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động của hệ thống. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com *) Kiểm tra Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với mục tiêu và kế hoạch đã định, nhằm kịp thời điều chỉnh sai sót và đưa ra những quyết định để điều chỉnh nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Đây là chức năng cơ bản. Kiểm tra là tai mắt của quản lý, vì vậy cần tiến hành thường xuyên và kết hợp linh hoạt nhiều hình thức kiểm tra.
Kiểm tra giúp cho việc thu nhận mối liên hệ ngược trong quá trình quản lý. Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Các chức năng trên được thực hiện nối tiếp nhau, đan xen vào nhau, phối hợp bổ sung tạo sự kết nối theo hướng phát triển tạo thành một chu trình quản lý mà trong đó yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện vừa là phương tiện không thể thiếu được trong quá trình ra quyết định quản lý. Thông tin có thể được sắp xếp ở vị trí như một chức năng trung tâm trong sơ đồ sau: Kế hoạch Thông tin Tổ chức Kiểm tra quản lý Chỉ đạo fhxhghxgn Sơ đồ 1.
Mối quan hệ các chức năng quản lý 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi thực hiện các chức năng trên, người quản lý phải thực hiện một loạt các vai trò quản lý: vai trò liên nhân cách, vai trò thông tin, vai trò quyết định và thể hiện các kỹ năng quản lý: kỹ năng liên nhân cách; các kỹ năng khái quát hóa; các kỹ năng giao tiếp tùy theo mức độ của từng cấp quản lý.