phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 Chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÍ HOA ̣T ĐỘNG DA ̣Y NGHỀ VÀ TƢ VẤN HƢỚNG NGHIÊP̣ CHO HỌC SINH BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ Chƣơng 2: THƢ̣C TRẠNG HOA ̣T ĐỘNG DA ̣Y NGHỀ VÀ TƢ VẤN HƢỚNG NGHIÊ ̣P TẠI TRUNG TÂM KTTH - HN QUẬN PHÚ NHUẬN Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ VÀ TƢ VẤN HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM KTTH - HN QUẬN PHÚ NHUẬN 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những quan điểm về hƣớng nghiệp và dạy nghề phổ thông 1. Giáo dục trung học cơ sở Giáo dục trung học (tiếng Anh: secondary education) là giai đoạn giáo dục diễn ra trong các trƣờng trung học, theo sau giáo dục tiểu học. Ở hầu hết các quốc gia, giáo dục trung học thuộc giai đoạn giáo dục bắt buộc, trong khi ở một số quốc gia khác thì chỉ có giáo dục tiểu học hay giáo dục cơ bản mới mang tính chất bắt buộc.
Theo Phạm Tất Dong (1996), vào giữa thế kỉ 19 ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hƣớng nghiệp chọn nghề”. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do sự phát triển công nghiệp. Ngay khi đó, ngƣời ta đã nhận thấy tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hoá vƣợt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng hiệu quả lao động trẻ tuổi. Đến năm 1975, nƣớc Pháp tiến hành cải cách giáo dục nhằm vào hƣớng: tăng cƣờng giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đƣa giáo dục kĩ thuật vào để đảm bảo sự liên hệ giữa trƣờng học và đời sống, đồng thời vẫn giữa vững ý nghĩa của các môn xã hội và nhân văn, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng cƣờng tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hƣớng nghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp.
Lao động nghề nghiệp Theo truyền thống, hệ thống trƣờng phổ thông của Đức quán triệt quan điểm nguyên tắc hƣớng nghiệp, để chuẩn bị cho học sinh đi vào trƣờng đào tạo nghề tuỳ theo trình độ học tập của mỗi em (OECD, 2007). Trẻ đƣợc phân loại ngay từ bậc Tiểu học, sau lớp 5, căn cứ vào thành tích học tập của từng em, trƣờng phân loại học sinh thành hai loại: Loại học hết lớp 10 rồi đi học công nhân lành nghề tại các trung tâm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạy nghề và loại học hết trung học (lớp 12). Đến đây lại phân loại lần nữa, chỉ cho những học sinh học khá lên lớp 13 thi lấy bằng tú tài toàn phần và vào học các trƣờng đại học, số còn lại sẽ vào học các cơ sở đào tạo nghề Trung cấp. Sự phân loại sơ bộ đƣợc tiến hành từ khi học hết tiểu học, nhƣng sẽ phúc tra đƣa ra quyết định chính xác vào sau lớp 9.
Tới lớp 10, ngay từ học kì 1, giáo viên chủ nhiệm liên hệ với nhiều cơ sở hƣớng nghiệp, những trƣờng dạy nghề của các công ty tƣ nhân và nhà nƣớc để đƣa học sinh đến tìm hiểu nghề nghiệp mình muốn học. Những học sinh có nhu cầu hay năng lực học lên đại học buộc phải học lực khá, và từ khi lớp 11 đƣợc vào học tại trƣờng phổ thông hệ học lên đại học. Xu hƣớng hiện đại hoá ở đây là tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với hƣớng đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc học trung học hoàn chỉnh. Tư vấn hướng nghiệp Hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề của Úc, gọi tắt là VET (Vocational Education and Training) thƣờng đƣợc gọi là hệ thống giáo dục dạy nghề và chuyên nghiệp (Technical and Vocational Education - TVE).
Ðây là hệ thống đào tạo mang tính thực tiễn và hƣớng nghiệp cao, bao gồm các khóa học về quản trị kinh doanh, tiếp thị, du lịch… Các trƣờng trung học phổ thông cũng có các lớp dạy nghề. Trọng tâm của VET là hƣớng nghiệp cho học viên sau khi học xong khóa học có thể trực tiếp áp dụng những điều họ học vào thực tiễn (Future Unlimited, 2015). Vấn đề TVHN và lập nghiệp ở các trƣờng học Úc không chỉ dạy lý thuyết đơn thuần, mà còn cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả các học sinh, làm cho học sinh vừa có kĩ năng lao động, vừa có tri thức. Việc giáo dục này giúp cho học sinh biết tự đƣa ra đƣợc những quyết định về việc lựa chọn có tính hƣớng nghiệp, lập nghiệp trong và sau khi học ở trƣờng và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động.
Bồi dưỡng kỹ năng nghề cho học sinh Magumi Nishino ở Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã nghiên cứu vấn đề bồi dƣỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông.Theo tác giả, học sinh trung học phải đƣợc: “Bồi dƣỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với lao động và có khả năng lựa chọn nghề tƣơng lai phù hợp với mỗi cá nhân” (Magami Nishino, 1995). Dù từ lâu, giáo dục Nhật Bản đã chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh phổ thông. Chính vì vậy, ở Nhật, trong vòng 30 năm từ 1952 - 1982 nhiều cuộc cải cách giáo dục đã đƣợc tiến hành, với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nƣớc. Trong đó, nhiều biện pháp đã đƣợc áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo nghề nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trƣờng tiểu học và trung học cơ sở.5 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (viết tắt UNESCO) Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỉ XXI của UNESCO khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại", đó là 4 trụ cột mà Uỷ ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục (Jacques Dolors, 1986).
Theo tác giả vấn đề TVHN và học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản không thể thiếu đƣợc trong giáo dục. Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức. Nhìn chung những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học, lao động chuẩn bị nghề nghiệp ở nƣớc ngoài đều chú ý việc cải cách mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, cơ sở vật chất- kĩ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông, tức là đề cập tới hoạt động TVHN và dạy nghề phổ thông. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó còn chƣa chú ý tới cách tổ chức, quản lý hoạt động TVHN và dạy nghề phổ thông.
Ở trong nước Trƣờng trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học nối tiếp bậc học tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Trƣờng trung học đƣợc chia thành: (1) Trƣờng trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9; (2) Trƣờng trung học phổ thông từ lớp 10 đến lớp 12. Ngoài trƣờng tiểu học, trung học cơ sở và trƣờng trung học phổ thông, ở Việt Nam hiện nay còn có hai loại trƣờng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phổ thông khác là: (1) Trƣờng phổ thông cơ sở là trƣờng ghép giữa tiểu học và trung học cơ sở từ lớp 1 đến lớp 9; (2) Trƣờng trung học là trƣờng ghép giữa trung học cơ sở và trung học phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12. (Mạng giáo dục, 2015) Trung học cơ sở là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay còn đƣợc gọi là cấp II, trên Tiểu học và dƣới Trung học phổ thông.
Trung học cơ sở kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9) hay 3 năm (từ lớp 7 đến lớp 9). Thông thƣờng, độ tuổi học sinh ở trƣờng Trung học cơ sở là từ 11 (hoặc 12) tuổi đến 15 tuổi. Trƣớc đây, để tốt nghiệp Trung học cơ sở, học sinh phải vƣợt qua một kì thi tốt nghiệp vào cuối lớp 9 nhƣng kể từ năm học 2005 - 2006 thì kì thi đã chính thức bị bãi bỏ. Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hƣớng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Công tác đào tạo hƣớng nghiệp và dạy nghề cho học sinh đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm từ rất sớm. Chủ Tịch Hồ Chí Minh Ở nƣớc ta, trƣớc hết phải kể đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, rất coi trọng và vận dụng sáng tạo quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhằm đào tạo lớp ngƣời lao động mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra: “Nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa là nhà trƣờng: Học đi với lao động; Lí luận đi với thực hành; Cần cù đi với tiết kiệm” (Hồ Chí Minh, 1962). Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Nghị quyết TW2 (Trung Ƣơng 2) khoá VIII đã đề ra nhiệm vụ của ngành giáo dục cần mở rộng và nâng cao chất lƣợng giáo dục kĩ thuật tổng hợp - hƣớng nghiệp.
Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã ghi rõ: “Coi trọng công tác hƣớng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nƣớc và từng địa phƣơng”.