Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo nghề Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề tại TT GDNN - GDTX huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề tại TT GDNN - GDTX huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài Đào tạo nghề luôn được các nước trên thế giới coi trọng và thực hiện một cách nghi m túc như là một phương pháp phân luồng học sinh ngay từ cấp học thấp, đồng thời cũng là biện pháp để cân bằng tránh tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Quản lý hoạt động đào tạo nghề hiện nay được nhiều chuyên gia nghiên cứu với nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau.
Heinz Weihrich và đồng nghiệp đã đưa ra nhận định của mình trong một báo cáo khoa học mang t n “Quản lý đào tạo nghề như một công ty liên doanh - cách tiếp cận hợp tác đào tạo của Đức như một mô hình cho Mỹ và các nước khác”. Trong báo cáo khoa học này các tác giả đã giới thiệu các mô hình đào tạo nghề theo phương pháp truyền thống của Đức và mô hình đào tạo nghề cần được bổ sung để hướng tới mức độ cao hơn. Đào tạo nghề theo hệ thống kép; tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, tác giả cho rằng đổi mới mô hình đào tạo nghề là rất quan trọng và mô hình mới là đào tạo liên doanh, đào tạo song hành. Học viên có thể tự tìm một trang trại hay doanh nghiệp để làm nơi thực hành các kỹ năng cho mình.
Tác giả Gasskov với tác phẩm “Quản lý đào tạo nghề” đã đưa ra hệ thống khoa học về quản lý, tổ chức đào tạo nghề trong các cơ sở đào tạo nghề công lập như quản lý tài chính, xây dựng mục ti u, cơ cấu tổ chức, quản lý đào tạo…; Đồng thời khuyến khích những người trong tổ chức đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả để tổ chức của mình đạt kết quả cao nhất trong thực hiện các nhiệm vụ. Các nghiên cứu đều cho thấy cần phải có sự cải tiến liên tục trong công tác quản lý hoạt động đào tạo để đạt hiệu quả cao trong việc đào tạo nghề cho người lao động và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động hiện nay. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu trong nước Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ dân trí.
ở nông thôn nước ta hiện nay. Chất lượng nguồn lao động là yếu tố then chốt quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương. Theo tác giả Huy Tuấn ở bài viết "Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo phương châm xây dựng nông thôn mới" đã đánh giá: "Việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn hiện nay càng có ý nghĩa trong bối cảnh cơ cấu lại nền kinh tế, cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp trong quá trình hội nhập. Việc này đòi hỏi công tác đào tạo nghề phải thực hiện tăng cả về số lượng và chất lượng.
Để làm được điều này thì ngoài việc tiếp tục thực hiện các hoạt động đào tạo nghề như hiện nay, cần thúc đẩy chính quyền các địa phương chủ động phối hợp với các doanh nghiệp đóng tại địa bàn tổ chức đào tạo nghề cho LĐNT; Thực hiện hỗ trợ đào tạo nghề theo chiến lược xuất khẩu lao động, kể cả hỗ trợ đào tạo nghề để tham gia xuất khẩu lao động; Tiếp tục kết hợp “truyền nghề” với đào tạo nghề chính quy; Thể chế hóa trách nhiệm của người lao động" [27]. Đào tạo nghề cho LĐNT nhằm hướng tới mục ti u nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn, tạo sự gắn kết giữa đào tạo nghề và giải quyết việc làm, tăng năng suất, tăng thu nhập cho người lao động và từng bước xây dựng nông thôn mới. Để làm tốt việc này cần tăng cường sự lãnh chỉ đạo của các cấp quản lý nhà nước, các địa phương cần chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo nghề đảm bảo nhu cầu sử dụng lao động và khả năng tự tạo việc làm của người lao động. Thực hiện tốt hơn nữa việc phân luồng học sinh, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Có như vậy mới tháo gỡ được một số vướng mắc hiện nay và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho LĐNT [19, tr. Ngoài ra cũng có một số tác giả đã nghi n cứu về vấn đề đào tạo nghề như: "Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề của Hiệu trưởng trường 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung cấp nghề Bắc Cạn - Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên" của tác giả Bế Ngọc Tuấn, năm 2014; "Một số biện pháp quản lý hoạt động liên kết giữa các cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu xã hội - Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội" của tác giả Phan Thị Kim Thu, năm 2013; "Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh - sinh viên trường Cao đẳng nghề Phú Thọ trong bối cảnh đổi mới giáo dục- Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội" của tác giả Bùi Thị Loan, năm 2016… Tuy nhi n cho đến nay, quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các Trung tâm GDNN-GDTX tr n địa bàn tỉnh Phú Thọ chưa được xem xét. Do vậy, vấn đề này cần nghiên cứu để có thể đề ra được những biện pháp hữu hiệu có tính khả thi đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác đào tạo nghề của tỉnh Phú Thọ, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo nước nhà. Một số khái niệm cơ bản 1.
Các khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Khái niệm "quản lý" là khái niệm rất chung, tổng quát. Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý. Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô, 1977, quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động [17, tr.
Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định [26, tr. Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [15, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ các quan niệm về quản lý như tr n, có thể hiểu: Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động, sắp xếp tổ chức, chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để bảo đảm hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã đề ra [12, tr. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành, nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm "quản lý giáo dục" có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cấp chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục. Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,. một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo vi n, công nhân vi n, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục ti u giáo dục của nhà trường. Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý và quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo vi n và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục ti u đào tạo của nhà trường. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những khái niệm nêu trên, dù ở cấp vĩ mô hay vĩ mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của quản lý giáo dục, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Trong thực tiễn, các yếu tố nêu trên không tách rời nhau mà ngược lại, chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau [16, tr.
Quản lý giáo dục là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành tố của nó, định hướng và phối hợp lao động của những người tham gia công tác giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục dựa trên thể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục.