Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới không có quốc gia nào, không có dân tộc nào lại không quan tâm đến phát triển giáo dục vì vậy dạy học từ lâu đã được nhiều nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục ở cả phương Đông và phương Tây đề cập đến. Có thể kể đến các tư tưởng và công trình chủ yếu dưới đây.
Ở phương Đông, các nhà tư tưởng về giáo dục có cách đây hơn 2500 năm, một triết gia nổi tiếng, một nhà Giáo dục lỗi lạc của Trung Quốc là Khổng Tử (551-479TCN) đã cho rằng: “Đất nước muốn phồn vinh, yên bình và thịnh vượng thì người quản lý cần chú trọng đến ba yếu tố là Thứ (dân đông), Phú (dân giàu), Giáo (dân được giáo dục). Khổng Tử cho rằng giáo dục là một thành tố không thể thiếu được của mỗi dân tộc, của mỗi quốc gia. Ông cho rằng việc giáo dục là cần thiết cho mỗi người “Hữu giáo vô loài” nghĩa là mọi người trong xã hội đều có quyền được học, được giáo dục, không phân biệt giầu, nghèo, sang, hèn, thiện, ác. Có đặt tư tưởng Khổng Tử vào thời điểm lịch sử bấy giờ chỉ tầng lớp thống trị có đặc quyền ấy mới thấy hết tính cách mạng của ngài.
“Hữu giáo vô loại” như phát đại bác nã vào cái thành trì giáo dục đẳng cấp. Ngài còn đặt nền móng cho đường lối giáo dục toàn dân tồn tại và phát triển đến ngày nay. Về phương pháp giáo dục ông coi trọng việc tự học, tự rèn luyện, tu thân, phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh, dạy học sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng. Kết hợp học với thực hành, lý thuyết với thực tiễn, phát triển động cơ học tập đúng đắn, tạo hứng thú và ý trí quyết tâm của người học.
Đến nay, phương pháp giáo dục của Khổng Tử vẫn còn nguyên giá trị, là bài học lớn cho các nhà trường trong công tác giáo dục và đào tạo của mình. 6 Các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trước đây thì khẳng định: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên”. Từ cuối thế kỷ XIV vấn đề dạy học và quản lý dạy học được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là: Cômenxki (1592-1670), ông đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên. Xaxenrđôtôp đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của Hiệu trưởng [24].Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề quản lý của Hiệu trưởng trường phổ thông như phân công nhiệm vụ của Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng để tìm ra cách quản tốt nhất.
Theo các tác giả, những cuộc trao đổi này như đòn bẩy, đã nảy sinh ra những dự định mà sau này trong công tác quản lý được phát triển trong lao động sáng tạo của tập thể sư phạm. Xukhomlinxki còn chỉ rõ tầm quan trọng của việc tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài dạy. Ông đã chỉ ra thực trạng yếu kém của việc phân tích sư phạm bài dạy cho dù hoạt động dự giờ và gióp ý với giáo viên sau giờ dự và góp ý với giáo viên sau giờ dự của nhà quản lý diễn ra thường xuyên. Từ đó ông đã đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm bài dạy cho giáo viên.
Trên thế giới cũng như trong nước có rất nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học. Tuy nhiên, những nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ở nước ngoài vẫn chưa có công trình nào bàn luận, nghiên cứu sâu đến quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường tiểu học nói chung và quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường tiểu học lấy năng lực, phẩm chất của học sinh làm mục tiêu dạy học nói riêng. Nghiên cứu ở Việt Nam Ngay từ những năm đầu mới thành lập, nhà nước ta rất chú trọng đến vấn đề giáo dục, đặc biệt là vấn đề giáo dục, đặc biệt là vấn đề dạy học. Năm 1945, Bác Hồ đã có chỉ thị: “Sự học tập trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên và thanh niên là tương lai của nước mình.
Vì vậy phải biết dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi,… phải dạy cho họ có ý trí tự lập tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” [dẫn theo 16, tr. Tư tưởng trên của Bác gợi ý cho chủ thể quản lý dạy học một số vấn đề: Quản lý dạy học phải gắn liền với thể chế xã hội, nề nếp dạy học, trình độ người dạy, năng lực tự học, tinh thần độc lập suy nghĩ và tính sáng tạo của người học. Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, điều này đã được luật hóa trong Luật giáo dục: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [22, tr. Sự phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và tạo nguồn nhân lực.
Đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học nói riêng. Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính thụ động, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy chủ động, sáng tạo của người học. Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của người học sinh trên tinh thần về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ 8 hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo. Vì vậy quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường học vùng dân tộc thiểu số trở thành vấn đề quan tâm của toàn Đảng, toàn dân, nhằm quản lý tốt các hoạt động dạy học của cán bộ quản lý, giáo viên trong trường.
Chú trọng các kỹ năng: đọc, viết, nghe và nói, tập trung giáo dục kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng tạo dựng các văn bản khác nhau cần thiết trong cuộc sống đọc, hiểu cho học sinh. Để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu là vô cùng quan trọng, đây là vấn đề luôn được các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước quan tâm. Một số giáo trình, tài liệu như: Khoa học quản lý giáo dục, Một số vấn đề về QLGD và Khoa học giáo dục, Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Quản lý và lãnh đạo nhà trường, Quản lý giáo dục,…đã được ứng dung rộng rãi và mang lại một số hiệu quả nhất định trong quản lý nói chung, quản lý giáo dục, quản lý trường học, nói riêng. Ngoài những tài liệu dưới dạng sách như đã nêu còn có thể kể đến rất nhiều luận văn thạc sỹ của các tác giả sau: Trần Thị Sáu: Các biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thanh Tịnh: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với trường tiểu học của Phòng giáo dục quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Đặng Minh Hằng: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiểu học của phòng GDĐT quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Ma Vĩnh Tường: Tổ chức dạy học Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số vùng khó khăn của tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên, các đề tài trên chỉ đề cập đến mặt lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề dạy học chương trình tiểu học hoặc phương pháp dạy học Tiếng Việt đại trà và chủ yếu tập trung vào đối tượng học sinh dân tộc Kinh học Tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ nhất - tiếng mẹ đẻ.
Nhưng những công trình nghiên cứu được đề cập ở trên là những tư liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài này. 9 Nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” là vấn đề chưa có công trình nào nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1.
Khái niệm về quản lý Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người, xét từ những phạm vi cá nhân, tập đoàn đến quốc gia hoặc nhóm quốc gia. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến một phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và phải chịu sự quản lý nào đó. Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều dẫn đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [6, tr.Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu và quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người.