phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh trình độ Cao đẳng Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh chuyên ngành tại trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh chuyên ngành tại trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOA ̣T ĐỘNG DA ̣Y HỌC TIẾNG ANH TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Quan điểm, tư tưởng QL xuất hiện từ rất sớm, nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Sử gia Daniel A.Wren từng nói “QL cũng xưa cũ như chính con người vậy”.
Cùng với sự phát triển của xã hội, các quan điểm, tư tưởng QL ngày càng được nghiên cứu sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, khoa học hơn và gắn với thực tiễn hơn. Trong lịch sử các tư tưởng QL, Phương Đông có Khổng Tử với tư tưởng Đức trị, Hàn Phi Tử (280 – 233 TCN) với tư tưởng Pháp trị, Phương Tây có Frederick Wilslow Taylor (1856 – 1915), cha đẻ của thuyết quản lý khoa học (Scientific Management), hay Henry Faylo (1881 – 1925), đại diện tiêu biểu cho học thuyết Quản lý hành chánh (Administrative Manegement). Cùng với thời gian và sự phát triển, các học thuyết, tư tưởng về QL ngày càng phong phú hơn gắn với mọi lĩnh vực đời sống xã hội của con người và ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác- Lênin đã định hướng cho các hoạt động giáo dục và QL giáo dục.
Trên cơ sở đó, hoạt động QL được xem xét một cách khoa học dưới mọi góc độ, và trên nhiều bình diện khác nhau. QL hoạt động dạy học nói chung, dạy học Tiếng Anh nói riêng là một phần quan trọng trong chương trình phát triển GD ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hầu hết các nước, đặc biệt là khu vực châu Á đều quy định Tiếng Anh là môn học bắt buộc trong chương trình và có xu hướng tăng thêm thời lượng dạy bộ môn này. Các hình thức dạy và học môn Tiếng Anh diễn ra phong phú, đa dạng và đều nhằm mục đích thúc đẩy quá trình hội nhập của các nước, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đất nước.
Năm 1976, Cộng đồng Châu Âu kêu gọi các quốc gia thành viên mở rộng việc dạy và học ngoại ngữ. Ở các quốc gia này, Tiếng Anh ở cấp tiểu học và trung học là ngoại ngữ được chọn học nhiều nhất. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Nhật Bản, Chính phủ thể hiện rõ quyết tâm đẩy mạnh hoạt động dạy học Tiếng Anh ứng dụng ở quy mô toàn bộ nền GD. Tiếng Anh được đưa vào giảng dạy từ bậc tiểu học và được tiến hành liên thông lên bậc cao đẳng và đại học.
Ở Trung Quốc, sau một loạt các cuộc cải cách nhỏ, tháng 2 năm 1993 “Đề cương về cải cách và phát triển giáo dục” của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc chính thức ra đời, bắt đầu cuộc cải cách đổi mới sâu rộng trong GD, quy định tiếng Anh phải được đưa vào dạy chính thức từ bậc tiểu học nhằm phục vụ thiết thực cho quá trình hội nhập mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực. Ở Hàn Quốc, kể từ năm 1997, tiếng Anh là môn bắt buộc từ lớp 3. Ngay từ độ tuổi mẫu giáo, nhiều trẻ em đã theo học các lớp nói tiếng Anh để chuẩn bị vào lớp 1. Bằng việc chú trọng dạy Tiếng Anh cho học sinh nhỏ tuổi, Hàn Quốc muốn tạo nên những trường đại học đẳng cấp thế giới trong tương lai.
Ở Việt Nam Nhận thấy vai trò và tầm quan trọng của ngoại ngữ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo việc nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta. Báo cáo của Chính phủ tại kì họp thứ VI Quốc hội khóa X tháng 12 năm 2004 đã nêu một trong những giải pháp đẩy mạnh khả năng chủ động hợp tác quốc tế trong GD là triển khai chiến lược dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, tập trung chủ yếu vào tiếng Anh, khuyến khích dạy và học ngoại ngữ thứ hai, cho phép một số cơ sở giáo dục đại học và sau đại học giảng dạy song ngữ bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài ở một số môn học và ngành học. Tiếp đến là Quyết định 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” (gọi tắt là Đề án quốc gia 2020), trong đó nêu rõ mục tiêu: “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Định hướng phát triển dạy nghề của Tổng cục dạy nghề cũng nêu rõ: “Đẩy mạnh đào tạo tiếng Anh chuyên ngành trong các trường nghề và đào tạo một số nghề trình độ cao, nghề trọng điểm bằng tiếng Anh.” Thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước, những năm gần đây, các nhà khoa học, các nhà QL và các GV đã đề cập nhiều đến những vấn đề cụ thể trong công tác QL hoạt động dạy học Tiếng Anh, quản lý hoạt động dạy học TACN như: Tác giả Hoàng Văn Vân với công trình nghiên cứu “Nghiên cứu giảng dạy các kĩ năng lời nói tiếng Anh ở giai đoạn nâng cao theo đường hướng lấy người học làm trung tâm” và “Phương pháp giảng dạy ngoại ngữ hợp lí và có hiệu quả ở Việt Nam đầu thế kỉ thứ XXI”; Tác giả Phạm Thị Thúy Huyền với đề tài “Các biện pháp quản lý chất lượng dạy học tiếng Anh theo mô hình quản lý chất lượng tổng thể ở Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội”; Tác giả Kim Văn Tất với đề tài “Dạy – học ngoại ngữ chuyên ngành tại các cơ sở đào tạo trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội: Những rào cản và giải pháp” và “Tạo ra và duy trì hứng thú học ngoại ngữ chuyên ngành cho sinh viên của Đại học Quốc gia Hà Nội”; Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà với đề tài “Nghiên cứu chiến lược đọc hiểu tiếng Anh của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành Cầu đường, Trường Đại học Giao thông Vận tải”; Tác giả Trương Thị Tuyết Hạnh với đề tài “Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh chuyên ngành ở trường Đại học Lao động – Xã hội”.
Trong các công trình nghiên cứu này, mỗi nhà nghiên cứu đứng trên một góc độ, bình diện khác nhau để tìm ra các biện pháp QL nhưng đều đi đến mục đích chung là nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Anh. Tuy nhiên, cho đến 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về QL hoạt động dạy học TACN tại trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng. Việc xây dựng cơ sở lý luận cho công tác QL nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học TACN sẽ giúp cho nhà trường có cơ sở điều hành công việc QL đào tạo nói chung và QL hoạt động dạy học TACN nói riêng đạt kết quả tốt. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.
Khái niệm quản lý Khoa học QL xuất hiện cùng sự phát triển của xã hội loài người. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại. Lao động QL là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện. Khoa học QL gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loại người, mang tính giai cấp, dân tộc, thời đại.
QL là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời QL còn là một nghề thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra những định nghĩa không giống nhau về QL. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về QL. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về QL lại càng phong phú.
Các trường phái QL đã đưa ra nhiều định nghĩa về QL. Marx: QL là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua QL. Người viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [10, tr. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Taylo – người được mệnh danh là cha đẻ của lý luận QL khoa học, cho rằng: “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất. 1] Theo Henri Fayol: “QL là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và cuối cùng là kiểm tra. 20] Harold Koontz, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của QL” đã viết: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân, nhằm đạt được các mục đích của nhóm.