Chương I, Điều lệ trường trung học phổ thông ban hành kèm theo thông tư 32/2020/TT-BGDĐT, ngày 15 tháng 9 năm 2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định: “Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng”. THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là giai đoạn quan trọng mà học sinh cần phải tích luỹ đầy đủ những kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện để chuẩn bị học lên (đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp) hoặc đi vào cuộc sống xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Ở độ tuổi từ 15 - 18, học sinh THPT có đủ các điều kiện về tâm - sinh lý, trí tuệ và thể chất để phát triển nhân cách toàn diện.
Chất lượng học tập ở bậc học này quyết định năng lực làm việc, tư duy sáng tạo, kỹ năng sống của mỗi con người. Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. Xác định đúng đắn mục tiêu giáo dục có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu giáo dục như là một phần của định hướng, chỉ đường cho các khuôn mẫu phát triển và làm nền tảng cho sự vận động của tình hình hiện tại đi đến tương lai.
Ngoài ra những mục tiêu cụ thể được xác định nhằm duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước năm 2000, phổ cập trung học cơ sở năm 2010, phổ cập THPT năm 2020. Bảo đảm phần lớn thanh, thiếu niên trong độ tuổi ở thành thị và vùng nông thôn học hết THPT, trung học chuyên nghiệp hoặc đào tạo nghề. Tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, suốt đời. Nội dung giáo dục trung học phổ thông Khoản 2,3 điều 30 Luật Giáo dục quy định: Giáo dục trung học phổ thông củng cố, phát triển nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp 12 cho học sinh, có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.
Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.” Nội dung giáo dục THPT là “phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông. Ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và để phát huy năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh”. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đổi mới nội dung giáo dục nhằm loại bỏ những nội dung không thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết theo hướng bảo đảm kiến thức cơ bản cập nhật với tiến bộ của khoa học và công nghệ, tăng nội dung khoa học - công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp và năng lực thực hành ở bậc học phổ thông, tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin, đưa việc giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với lứa tuổi và từng bậc học, coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội - nhân văn, nhất là tiếng Việt, lịch sử dân tộc, địa lý và văn hoá Việt Nam. Như vậy, nội dung giáo dục THPT được đổi mới phải mang tính chất phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý học sinh.
Để thực hiện những mục tiêu và nội dung đổi mới giáo dục THPT theo tinh thần của chương trình GDPT 2018, yêu cầu xây dựng đội ngũ giáo viên chuẩn hoá, có chất lượng cũng như tăng cường việc đào tạo, sử dụng đội ngũ giáo viên càng trở nên cấp bách. Kế hoạch giáo dục ở bậc trung học phổ thông Kế hoạch giáo dục là một văn bản có tính pháp lý của Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trong toàn quốc, mọi cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý, giáo viên phải thực hiện nghiêm túc. 13 Kế hoạch giáo dục quy định: Thành phần các môn học, trình tự dạy các môn ở từng lớp, số giờ dành cho từng bộ môn học trong tuần, trong năm, cầu trúc thời gian của năm học, khoa học giáo dục là tài liệu quan trọng nhất nhằm xác định nội dung, mức độ học vấn phổ thông và tổ chức các hoạt động giáo dục góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học, bậc học. Định hướng mang tính nguyên tắc khi xây dựng kế hoạch giáo dục trong thời gian tới: Kế hoạch giáo dục phải phản ánh mục tiêu giáo dục toàn diện bao gồm những yêu cầu về giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động kỹ thuật.
Kế hoạch giáo dục phải phản ánh tính hài hoà, cân đối giữa các mặt giáo dục bảo đảm tính hệ thống, kế tiếp. Xác định hệ thống môn học với thời lượng phù hợp, bảo đảm coi trọng nội dung giáo dục, khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, kỹ năng và công nghệ. Kế hoạch giáo dục xây dựng phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý và sức khoẻ của học sinh. Để bảo đảm mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh THPT, những nội dung kiến thức cần thiết về kỹ thuật, công nghệ, hướng nghiệp, và những kiến thức về: dân số, môi trường, pháp luật, giao thông, ngoại ngữ, sử dụng máy tính, âm nhạc, mỹ thuật, hướng nghiệp.
ngày càng được cập nhật hoá, tích hợp trong các môn học. Mục tiêu, nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục là những thành tố của hệ thống giáo dục và chúng có quan hệ hữu cơ, gắn bó và tác động qua lại lẫn nhau. Đối với mục tiêu giáo dục không những phải đổi mới nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục mà còn phải xây dựng đội ngũ giáo viên có năng lực, đủ tài đức để thực hiện mục tiêu đó, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sự phát triển của giáo dục phổ thông với đặc trưng về tổ chức sư phạm như cơ cấu hệ thống, nội dung đào tạo, tổ chức các điều kiện đào tạo, nếu có sự quản lý tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy các nhân tố tích cực, hạn chế các diễn biến tiêu cực của kinh tế - xã hội.
Yêu cầu và xu thế phát triển trường THPT hiện nay Trong bối cảnh thế giới cũng như trong khu vực và nước ta hiện nay đặt ra cho giáo dục trung học những yêu cầu mới. Trước hết đó là những vấn đề như sau: 14 Sự bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ. Đây là xu thế đưa nhân loại đến nền văn minh trí tuệ. Nhờ vào lượng thông tin khoa học - công nghệ, nhờ vào công nghệ cao như vi điện tử, tin học, sinh học, tự động học, vật liệu mới xã hội thông tin sẽ tạo ra một nền “công nghiệp sinh thái”.
Vì vậy, tác giả Hoàng Đức Nhuận trong bài: “Bàn về vai trò giáo dục của nhà trường trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam” đề nghị phải xem lại học vấn THPT, cấu trúc lại chương trình và nội dung dạy học, phải phát triển cho được ở học sinh phương pháp tư duy sáng tạo. Con người sẽ thay đổi những quan niệm cơ bản đối với thiên nhiên và xã hội. Sự tiến bộ xã hội không chỉ đo bằng công nghệ hoặc mức sống vật chất, mà bằng cả chỉ tiêu đạo đức, thẩm mỹ, môi trường, văn hoá, tinh thần…. Con người sẽ là trung tâm của sự phát triển.
Sự phát triển phải là của dân, do dân tham gia thực hiện, sự phát triển vì nhân dân, vì hạnh phúc con người, xem con người là động lực phát triển của xã hội. Đảng ta đã đề ra mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nền kinh tế thế giới cũng như khu vực đi đến một khuôn khổ toàn cầu. Bất kể đất nước nào nếu thu nhận được những bài học của thị trường, tạo lập được những phẩm chất cho phép cạnh tranh trong một thế giới kinh tế không biên giới thì mới có cơ hội thành công.
Giáo dục được nhận thức như một động lực, một đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế Thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Ngày nay các quốc gia không còn tách biệt nhau mà càng ngày càng liên kết trong một cộng đồng khu vực giáo dục, yêu cầu sử dụng vệ tinh cho giáo dục từ xa, nhu cầu xây dựng trường quốc tế, đa quốc gia. Sự hợp tác đa phương, song phương ngày càng mở rộng, làn sóng đua tranh, sàng lọc ngày càng gay gắt. Xuất hiện trạng thái đa văn hoá trên nền văn hoá truyền thống.
Trong quan hệ quốc tế, hợp tác trí tuệ rất quan trọng. Hợp tác quốc tế về trí tuệ là nét điển hình trong thế giới ngày nay. Bối cảnh thế giới sẽ xuất hiện những khủng hoảng trầm trọng như: nạn ô nhiễm môi trường sinh thái, sự bùng nổ dân số, xung đột sắc tộc, dân tộc và tôn giáo, sự đói nghèo, lạc hậu, dịch bệnh và ngu dốt đã ảnh hưởng đến nền giáo dục nói chung và GDTH nói riêng trong tình hình mới hiện nay. 15 Ở nước ta, từ năm 1986 trở lại đây, thời gian mặc dù chưa dài, nhưng con người Việt Nam bước đầu bộc lộ một số đặc điểm nhân cách của mình trong điều kiện mở cửa.
Chuyển sang cơ chế mới, mỗi con trước hết phải chịu trách nhiệm về công việc của mình. Cho nên biết tính toán hiệu quả kinh tế, sự đòi hỏi mức tiêu dùng hàng ngày càng cao, chấp nhận ganh đua, chấp nhận giàu nghèo. Vì vậy tạo ra sự hăng say lao động, học tập thay cho trung bình chủ nghĩa, đặc biệt ở lứa tuổi học sinh THPT và sinh viên.