phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh ở trƣờng THCS. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh ở các trƣờng THCS huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh ở các trƣờng THCS huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, phát triển năng lực đã, đang là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm đặc biệt. Tìm hiểu về phát triển năng lực cho học sinh (HS), các nhà nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc những yếu tố tác động, từ đó, đề ra chiến lƣợc và mô hình phát triển năng lực. Xây dựng chƣơng trình dựa trên định hƣớng năng lực đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là ở những nƣớc phát triển.
Nhà sƣ phạm vĩ đại J.Comenxki (1592-1670), ngƣời sáng lập ra hình thức tổ chức dạy - học lớp bài, đƣa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục theo hƣớng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của ngƣời học. Theo ông, dạy học phải làm nhƣ thế nào để ngƣời học tự tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm bắt lấy bản chất của sự vật và hiện tƣợng [10]. John Dewey (1859-1925), nhà sƣ phạm ngƣời Mỹ, đã đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn để bổ sung vào kiến thức của học sinh ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên. Ông đặc biệt chú ý đến hoạt động học khi viết: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phƣơng tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh”.
Đây là ý tƣởng khởi nguồn cho triết lý “Lấy học sinh làm trung tâm trong giáo dục” [16]. Với quan niệm phát triển năng lực gắn liền với nhận thức về văn hóa, ngay từ năm 1993, Lev Vygotsky đã nhấn mạnh rằng bản chất của việc học 8 tập vốn là đƣợc trải nghiệm vào một môi trƣờng văn hóa cụ thể. Trong cộng đồng này, ngƣời học sẽ phải thích nghi, hình thành các chuẩn, hành vi, kỹ năng, niềm tin, ngôn ngữ, thái độ phù hợp với bối cảnh. Giới nghiên cứu cũng thống nhất cao với quan điểm ngƣời học sẽ có thể đƣợc trải nghiệm nhiều hơn khi tham gia vào một nhóm thực hành [32].
Clancey cho rằng việc học cách trở thành một thành viên của cộng đồng không đƣợc chuyển giao bằng các quy tắc và bàn giao các công cụ vì các khái niệm không thể đƣợc thực hiện bằng cách mô tả. Điều này có nghĩa là HS không thể học khái niệm “chay” và “đơn độc” mà phải học trong môi trƣờng và có tƣơng tác với ngƣời khác. Vì thế, môi trƣờng học tập nên trở thành trung tâm của quá trình này, nhằm làm rõ nội dung kiến thức, hình thành năng lực và đánh giá việc học của HS một cách thƣờng xuyên đồng thời bắt kịp cách định hƣớng chung với cộng đồng [31]. Các nghiên cứu ở Việt Nam Những năm gần đây, dạy học theo hƣớng phát triển năng lực, phẩm chất của HS đã và đang trở thành xu thế mới ở Việt Nam trong đổi mới giáo dục, chuyển mục tiêu giáo dục từ coi trọng truyền thụ kiến thức sang giáo dục nhân cách công dân, phát huy tốt nhất tiềm năng của ngƣời học.
Vai trò của phát triển năng lực cho HS ngày càng đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Điều này thể hiện trƣớc hết qua các văn bản chỉ đạo trong giáo dục, nội dung chƣơng trình giáo dục phổ thông mới. Nghị quyết số 29/NQ-TƢ ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ngƣời học.
Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trƣờng kết hợp 9 với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [1]. Nội dung văn kiện đã đề cập đến tính thực hành, mối quan hệ giữa các lực lƣợng xã hội, tác động của phƣơng pháp giáo dục, môi trƣờng giáo dục đến quá trình phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ngƣời học. Chƣơng trình tổng thể ban hành theo Thông tƣ số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 nêu rõ “Giáo dục Toán học hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành tố cốt lõi: Năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình học toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn, giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa toán học với các môn học khác và giữa toán học với đời sống thực tiễn” [9]. Để triển khai Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 đạt kết quả nhằm hình thành và phát triển năng lực học Toán cho học sinh THCS, vai trò ngƣời thầy sẽ chuyển từ dạy học lấy học sinh làm trung tâm sang dạy học lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm.
Phát triển và đánh giá năng lực cho HS phải đƣợc tiến hành trong bối cảnh có ý nghĩa và ở những lĩnh vực học tập chủ chốt, từ đó hình thành và phát triển cho HS năng lực thích nghi với thực tiễn. Lƣơng Việt Thái chỉ ra rằng sự thành thạo trong quá trình phát triển năng lực cho HS phải đƣợc phát triển các thành phần và phải đƣợc “thực hành” trong những tình huống thực tiễn. Vì thế, trong quá trình dạy học, GV cần phải tạo cơ hội cho HS đƣợc trải nghiệm, nhằm đạt đƣợc sự thành thạo đối với những năng lực riêng biệt thông qua các thực hành trong các bối cảnh và kinh nghiệm học tập ở tất cả các lớp [29, tr. “Giáo trình PPDH môn Toán ở THPT theo định hƣớng tích cực” tác 10 giả Bùi Thị Hƣờng đã đi sâu vào nghiên cứu PPDH nhằm PTNL HS.
Tài liệu này đã chỉ ra cách thức GV tiến hành hoạt động dạy để PTNL HS. Bên cạnh hoạt động dạy của GV còn có hoạt động học của HS. Nếu HS chủ động, tích cực, tự giác, biết phƣơng pháp tự học, tự nghiên cứu thì học sinh sẽ nhanh chóng nắm vững tri thức, phát triển toàn diện nhân cách [15]. Đỗ Hƣơng Trà (2015) giới thiệu các chủ đề tích hợp với các mức độ tích hợp khác nhau, từ tích hợp ở mức độ lồng/ghép/liên hệ đến tích hợp ở mức độ chƣơng trình.
GV không chỉ đƣợc cung cấp cụ thể những chỉ dẫn mà còn nâng cao sự tự tin, tính chủ động và sáng tạo trong việc lựa chọn cách thức tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp để đáp ứng mục tiêu dạy học và phát triển đa dạng các năng lực của học sinh. Theo đó, dạy học không phải là tạo ra kiến thức hay truyền đạt kiến thức mà dạy cho ngƣời học học cách đáp ứng hiệu quả các đòi hỏi cơ bản liên quan đến môn học và có khả năng vƣợt ra ngoài phạm vi môn học để chủ động với cuộc sống trong tƣơng lai [30]. Trong thời gian qua, có nhiều đề tài nghiên cứu HĐDH môn Toán và dạy học theo định hƣớng PTNL HS nhƣ: - Hoàng Trung Quân (2015), Quản lý hoạt động dạy học theo định hƣớng phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất ngƣời học ở trƣờng THPT Chu Văn An tỉnh Thái Bình, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội. - Phan Trọng Đệ (2018) với đề tài: Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trƣờng trung học phổ thông huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Văn Thị Thu Hạnh (2020), Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hƣớng phát triển năng lực học sinh ở các Trƣờng Trung học phổ thông thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. - Trần Thanh Sơn (2021), Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh ở các Trƣờng Trung học cơ sở huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung nghiên cứu các nội dung 11 của hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học, đặc biệt trong thời gian gần đây có nhiều công trình nghiên cứu HĐDH môn Toán và dạy học theo định hƣớng PTNL HS, nhƣng quản lý HĐDH môn Toán theo định hƣớng PTNL HS ở huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai chƣa đƣợc nghiên cứu. Đây là đề tài chuyên sâu, có tính khả thi cao trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý giáo dục Giáo dục là một bộ phận của hệ thống xã hội nắm giữ chức năng quan trọng là đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của xã hội trong tƣơng lai. Do đó, quản lý giáo dục là sự vận dụng khoa học quản lý vào các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu mong muốn của giáo dục. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ƣu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đƣa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trƣờng bên ngoài luôn luôn biến động” [18].
Tác giả Nguyễn Gia Quý: “Quản lý quá trình giáo dục là quản lý một hệ thống toàn vẹn bao gồm các yếu tố: Mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, tổ chức giáo dục, ngƣời dạy, ngƣời học, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho ngƣời dạy và học, môi trƣờng giáo dục, kết quả giáo dục” [27]. Như vậy, QLGD là một loại hình quản lý xã hội.