CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề a) Trên thế giới * Trong thời gian tương đối ngắn của mình, khoảng 50 năm ( từ 1949 đến 2000) GDTX đã và đang phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cả về số lượng và chất lượng. Điểm lại sự phát triển của GDTX trên thế giới trong thời gian qua nổi lên 7 xu thế chính: Vai trò, vị trí của GDTX ngày càng nổi bật và quan trọng. GDTX ngày càng được quan tâm, đầu tư và ngày càng có cơ sở pháp lí thuận lợi cho sự phát triển ở nhiều quốc gia.
Ngày càng nhiều tổ chức tham gia và cam kết ủng hộ, giúp đỡ GDTX. GDTX ngày càng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Chức năng của GDTX ngày càng được mở rộng. Nội dung và các chương trình GDTX ngày càng phong phú, đa dạng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi tầng lớp nhân dân.
Đối tượng của GDTX ngày càng đa dạng. * Giáo dục thường xuyên ở các nước trong khu vực châu Á- Thái bình Dương: Ở các nước đang phát triển GDTX cũng ngày càng được thừa nhận có vai trò quan trọng bởi ý nghĩa kinh tế, chính trị và xã hội của nó. Để không lạc hậu với cách mạng KHKT, các nước đang phát triển càng phải nỗ lực nhiều hơn, tất nhiên khó khăn hơn gấp bội, nhưng không còn cách nào khác. Chỉ như vậy các nước này mới mong thoát khỏi sự lệ thuộc về kinh tế, chính trị, mới độc lập thật sự, mới có thể phát triển theo kịp tốc độ phát triển kinh tế, xã hội ở các nước trên thế giới.
GDTX dần dần được coi là công cụ của chính sách quốc gia ở các nước đang phát triển. Đầu tư vào nguồn vốn nhân lực được coi là đầu tư cho phát triển. Đầu tư vào nguồn vốn nhân lực không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ đơn giản là đầu tư cho giáo dục trẻ em, mà phải đầu tư vào việc tăng ngay kiến thức và năng lực cho đội ngũ lao động hiện hành. Điểm lại GDTX ở các nước trong khu vực có thể thấy những nét chính sau đây: Quan niệm về GDTX tuy còn khác nhau nhưng nhìn chung GDTX có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp cơ hội học tập suốt đời sau biết đọc, biết viết, học hết chương trình tương đương tiểu học.
Vai trò của GDTX đối với phát triển kinh tế - xã hội ngày càng được đánh giá cao, tuy nhiên còn chưa đúng mức so với vị trí ngày càng quan trọng của nó trong bối cảnh thế giới hiện nay. Đối tượng của GDTX rất khác nhau nhưng nhìn chung đều chú trọng ưu tiên tới cộng đồng nông thôn, những người thiệt thòi như phụ nữ, trẻ em gái, người dân tộc, người nghèo, người mù chữ, trẻ em lang thang cơ nhỡ, thất nghiệp. - Trên thế giới có nhiều hội nghị, nhiều tác giả bàn và viết về giáo dục không chính quy trong đó có GDTX, Tổ hợp trung tâm sản xuất – học tập (Nga); Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) ở Nhật bản; Trung tâm học tập nhân dân (Thuỵ Điển); Giáo dục cho mọi người (Thái Lan). Diễn đàn GD thế giới tổ chức tại Dakar - Sengal ( 26-28 tháng 4 năm 2000 ) đã phê chuẩn khuôn khổ hành động Dakar bao gồm các mục đích và cam kết tổng kết của chính phủ các nước và của cộng đồng quốc tế hướng tới đảm bảo giáo dục cơ bản cho tất cả mọi người vào năm 2015 … b) Ở Việt Nam Từ tháng 11/1993 đến nay GDTX phát triển không ngừng, hệ thống bộ máy quản lý, chỉ đạo của GDTX được phát triển ngày càng hợp lý và thông suốt từ Trung Ương đến cơ sở, từng bước thực hiện được chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực GDTX trên phạm vi cả nước.
Mạng lưới cơ sở GDTX đã được đưa vào luật giáo dục, ngày càng hoàn thiện và từng bước mở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rộng đến tận cơ sở (xã). Đội ngũ cán bộ, giáo viên GDTX ngày càng ổn định và được quan tâm hơn trong việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về GDTX. Họ không chỉ là nhà sư phạm mà còn là nhà tổ chức các hoạt động của GDTX. Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về GDKCQ – GDTX có thể kể tới các công trình nghiên cứu GDTX tại viện khoa học giáo dục Việt Nam, các đề tài khoa học của Vụ GDTX – Bộ GD&ĐT của các tác giả: Tô Bá Trượng, Trần Bá Hoành, Thái Xuân Đào, Vũ Văn Tảo, Trịnh Minh Tứ.
Một số luận văn thạc sỹ cũng đã đề cập tới một số vấn đề liên quan tới hoạt động của TTGDTX như: Nguyễn Xuân Trụ với đề tài "Biện pháp đẩy mạnh các hoạt động của Trung tâm GDTX cấp huyện " và thạc sỹ Đỗ Thành Trung đề tài: "Một số giải pháp quản lý phát triển giáo dục không chính quy". Nhưng chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử một cách hệ thống tại Trung tâm GDTX. Một số khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động dạy học môn Lịch sử tại trung tâm GDTX 1. Quản lí Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau.
Theo một số tác giả, tiếp cận trong quản lý là đường lối xem xét hệ thống quản lý, là cách thức thâm nhập vào hệ thống quản lý, là đường lối để xử lý các vấn đề quản lý. Có nhiều tác giả đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý như sau: - Theo Frederik Winslon Taylo ( 1856 – 1915), người Mỹ, được coi là “Cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ”. Ông cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất.” Theo thuyết quản lý hành chính Heny Fayol thì: “Quản lý hành chính là lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra" Theo Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [4,tr1].
Như vậy Mác đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã xác định một cách cụ thể “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [6]. Tóm lại, quản lý là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội những hành vi hoạt động của con người, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích theo ý chí của nhà quản lý và phù hợp với qui luật khách quan.
Chức năng quản lý: Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Về số lượng các chức năng quản lý nói chung, những tác giả nghiên cứu về quản lý có ý kiến không giống nhau. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng quản lý.
- Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác. Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức. - Chức năng tổ chức: Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng.
Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực, tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng. - Chức năng chỉ đạo: Chức năng này đòi hỏi người quản lý phải vận dụng khéo léo các PP và nghệ thuật quản lý. Đây là quá trình tác động qua lại giũa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm gúp phần thực hiện hoá các mục tiêu đề ra.
Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy những tiềm năng của con người trong hệ thống quản lý, thực hiện tốt mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình đó giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc. - Chức năng kiểm tra: Chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra, điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức.