Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đến năm 2025. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.1 Những vấn đề lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.1 Khái niệm Trong suốt 30 năm qua, FDI ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của rất nhiều quốc gia.
Ngày nay, FDI đã được công nhận một cách rộng rãi rằng nó có thể đem lại những lợi thế quan trọng cho các nền kinh tế tiếp nhận nó. Bên cạnh việc cung cấp các nguồn tài chính, FDI còn tạo điều kiện để chuyển giao các tài sản vô hình như công nghệ, kỹ năng và bí quyết quản lý, trực tiếp giúp tăng năng suất và đẩy mạnh tăng trưởng. FDI cũng giúp bảo đảm cho việc gia nhập thị trường quốc tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của công nghiệp nội địa. Theo khái niệm và cách phân loại tài khoản quốc tế trong Cẩm nang về Cán cân Thanh toán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): FDI là một loại hình đầu tư quốc tế trong đó một tổ chức cư trú tại một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.
Lợi ích lâu dài ở đây hàm ý sự tồn tại trong thời gian dài của một mối quan hệ giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp này và mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp này. Khái niệm có tính bước ngoặt về FDI của Tổ chức phát triển hợp tác kinh tế (OECD) chỉ rõ rằng một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là việc một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó một nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết. Đặc điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia sử dụng mức 10% để làm mốc xác định FDI.
Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều 7 hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc tỷ lệ sở hữu lớn hơn nhưng vẫn chỉ là nhà đầu tư gián tiếp. Do vậy, các khái niệm về FDI do các tổ chức khác nhau đưa ra cũng có thể khác nhau. * Có ba yếu tố cấu thành đầu tư trực tiếp: (1) Vốn chủ sở hữu, trong đó có cả vốn pháp định của các chi nhánh, công ty con và các loại vốn góp khác. (2) Thu nhập được tái đầu tư dưới hình thức vốn chủ sở hữu hoặc giao dịch nợ liên công ty.
(3) Vốn liên quan đến giao dịch nợ liên công ty. * Có hai loại hình FDI cơ bản: (1) Thành lập công ty mới hoặc đầu tư mới (có nghĩa là việc thành lập một doanh nghiệp liên doanh mới hoặc một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài). (2) Sáp nhập và thâu tóm (M&A) một doanh nghiệp nội địa đang tồn tại, mua cổ phần của các công ty cổ phần và cổ phần hoá. Ở nước ta, ngay từ năm 1977, khái niệm đầu tư nước ngoài đã chính thức được ghi nhận trong Điều lệ Đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977): Được coi là đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn sau đây, nhằm xây dựng những cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có: (1) Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ (gồm cả những thứ dùng cho việc thí nghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật… cần thiết cho mục đích nói trên; (2) Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh, phương pháp công nghệ, bí mật kỹ thuật, nhãn hiệu chế tạo… (3) Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ, nếu phía Việt Nam thấy cần thiết; (4) Vốn bằng ngoại tệ để chi lương cho nhân viên và công nhân làm việc ở các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định của Điều lệ này.
8 Như vậy, trong khái niệm trên, không phải bất cứ sự vận động vốn (tư bản) nào từ nước ngoài vào Việt Nam đều là đầu tư nước ngoài, mà chỉ việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn đã được quy định tại Điều 2 Điều lệ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam mới được coi là đầu tư nước ngoài. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “FDI là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này.” Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng có định nghĩa về FDI như sau: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư; Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Như vậy, FDI, xét theo định nghĩa pháp lý của Việt Nam, là hoạt động bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó. Như vậy, ngoài những khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được trình bày ở trên, về mặt lý luận, có thể đưa ra khái niệm khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư của nước này đưa vốn bằng tiền hoặc tài sản hợp pháp khác vào nước khác và được nước tiếp nhận chấp thuận vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi ích của mình.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, các loại hợp đồng và giấy tờ hợp pháp có giá trị,.), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý,. Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài. Trong khái niệm này, yếu tố nước ngoài trong đầu tư nước ngoài được thể hiện ở hai dấu hiệu đặc trưng chính, một là: có sự tham gia của chủ thể nước ngoài và hai là: có sự 9 di chuyển vốn từ nước này sang nước khác và trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý hoạt động đầu tư. Mỗi khái niệm, mỗi cách tiếp cận đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng, nhưng theo cách hiểu nào thì cũng giúp cho chúng ta hiểu được về FDI.
Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài Có 4 loại hình FDI như sau: (1) Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được thành lập bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự quản lý điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn.
Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư). Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập và chịu sự QLNN của nước sở tại. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần… 10 Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động. Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề người lao động. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận. (2) Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Đây là hình thức FDI, qua đó pháp nhân mới được thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp mới này do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh.