phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cở sở khoa học về quản lý Nhà nƣớc về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Chƣơng 2 : Thƣc trạng QLNN về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại tỉnh Hủa Phăn, nƣớc CHDCND Lào. Chƣơng 3 : Một số giải Pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nƣớc về FDI tại tỉnh Hủa Phăn, nƣớc CHDCND Lào. 14 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
Lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. khái niệm đầu tư Hoạt động đầu tƣ là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vậy chất khác nhằm trực tiếp hoặc gian tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chết kỹ thuật của nền kinh tế nói chung. Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tƣ, có thể có nh ng cách hiểu khác nhau về đầu tƣ. Đầu tƣ theo nghĩa rộng , đƣợc hiểu là sử hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt đông nào đó nhằm thu về cho ngƣời đầu tƣ các kết quả trong định cho tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã b ra để đạt đƣợc các kết quả đó.
Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Các kết quả đạt đƣợc có thể là sử tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực. Đầu tƣ theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm nh ng hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền KT-XH nh ng kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc các kết quả đó. Từ đây có khái niệm về đầu tƣ nhƣ sau: đầu tƣ là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tƣơng đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.
Khai niệm đầu tư về trực tiếp nước ngoài ĐTNN hay c n là đầu tƣ quốc tế, là một hoạt đông của nền kinh tế thế giới. Do đó, nó có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt đồng khác nhƣ: thƣơng 15 Luan van mại, cho vay vốn viện trợ, chuyển giao công nghệ quốc tế, dich vụ tài chính, ngân hàng, du lịch quốc tế …Tuy các hoạt động đầu tƣ xuất hiện muộn hơn so với các hoạt đông thƣơng mại hàng hoá, nhƣng trong thời đại ngày , ĐTNN đã phát hiện rất mạnh mẽ và nó g n liền với hai xu hƣớng lớn là tòan cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Trên thế giới hiện nay còn có nhiều khái niệm khác nhau về ĐTNN, cụ thể: - Theo các nhà kinh tế Trung Quốc: ĐTNN là ngƣời sở h u cơ bản nƣớc này đầu tƣ vào nƣớc khác. Có hai loại ĐTNN là đầu tƣ trực tiếp và đầu tƣ gían tiếp.
sử khác nhau cơ bản gi a hai loại này là ở chỗ ngƣời đầu tƣ có quyền kiểm soát thực tế đối với xí nghiệp mà họ đầu tƣ ở nƣớc ngoài hay không(4 tr, 20). - Các nhà kinh tế Việt Nam cho rằng: ĐTNN là quá trình vận động của nguồn lực(tƣ bản) từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm mục đích thu đƣợc lợi ích lớn hơn chi phí ban đầu. Bên cạnh đó khái niệm này cũng đƣợc cụ thể hoá trong văn bản quy phạm pháp luật nhƣ: - Theo luật ĐTNN của Việt Nam “ ĐTNN là việc tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài trực tiếp đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền nƣớc ngoài hoặc bất cứ tài sản nào đƣợc Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp100% vốn nƣớc ngoài theo quy định của pháp luật này” (14, tr. - Theo luật khuyến khích ĐTNN của CHDCND Lào: “ ĐTNN là quá trình nhà ĐTNN đƣa vốn gồm tiền, tài sản, công nghệ và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh vào CHDCND Lào để kinh doanh theo thoả thuận ký kết và hai bên cùng có lợi”.
Các quan niệm và định nghĩa trên đều có nh ng điểm chung: 16 Luan van Một là: nguồn vốn ( dƣới các hình thức khác nhau) đựơc đƣa ra kh i biên giới của quốc gia này đi vào sử dụng một quốc gia khác. Tiêu chí này sẽ giúp chúng ta phân biệt hoạt đông ĐTNN với hoạt động thƣơng mại hàgng hoá trong quan hệ kinh tế quốc tế. khi đƣa vốn nƣớc này sang nƣớc khác, quyền sở h u vốn đó thƣờng vẫn đƣợc về các chủ thể đầu tƣ của nƣớc xuất khẩu vốn. Hai là, hành vi ĐTNN có thể mang tính ng n hạn, trung hạn và dài hạn bao gồm cả một quá trình đƣa vốn có tổ chức để xây dƣng công trình, sản xuất kinh doanh … đây cũng là nh ng tiêu chí cơ bản giúp phân biệt ĐTNN với thƣơng mại hàng hoá và hoạt động tín dụng quốc tế.
Ba là, mục đích của ĐTNN, là nhằm thu lợi nhuận lớn hơn khi đầu tƣ trong nƣớc mình. Bốn là, hoạt động ĐTNN phải phù hợp với pháp luật quốc gia của nƣớc xuất khẩu vốn, nƣớc tiếp nhận vốn và pháp luật quốc tế. Có thể nói rằng có nhiều quan niệm khác nhau về đầu tƣ tuỳ theo tính chất, mục đích và phạm vi hoạt đồng cuả đầu tƣ. Tuy nhiên đầu tƣ trong hoạt động kinh tế nhằm mục đích lợi nhuận đƣợc coi là bản chất của đầu tƣ.
Điều nay đƣợc chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định trong tác phẩm “ chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tƣ bản”, V. Lênin cho rằng, trong thời kỳ độc quyền tƣ bản chủ nghĩa, khi lực lƣợng sản xuất phát triển, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-kỹ thuật, làm cho cấu tạo h u cơ trong toàn bộ nền kinh tế tăng cao, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận có xu hƣớng giảm sút. Cùng với nó là quá trình tích tụ và tập trung tƣ bản tăng lên dƣới tác động trực tiếp của quy luật giá trị và quy luật tích luỹ tƣ bản. trong khi đó giá trị sức lao đông cũng tăng, làm tăng tiền công và chi phí sản xuất tƣơng ứng, dẫn đến xuất hiện phổ biến trong nền kinh tế các nƣớc tƣ bản phát triển: “ hiện tƣợng thừa tƣ bản”.
Thừa tƣ bản ở đây là do không tìm đƣợc nơi đầu tƣ trong nội địa có lợi nhuận độc quyền cao, chứ không phải thừa so với nhu cầu 17 Luan van nền kinh tế của nƣớc tƣ bản đó. Lênin đã đề cập đến tính thiếu hấp dẫn của môi trƣờng đầu tƣ nội địa ( Môi trƣờng kinh doanh), cho nên nhà tƣ bản phải xuất khẩu tƣ bản ra nƣớc ngoài vào nh ng nơi, nh ng nƣớc có môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi có khả năng kiếm lợi nhuận cao. Theo Lênin: “Chừng nào chủ nghĩa tƣ bản vẫn còn là chủ nghĩa tƣ bản, số tƣ bản thừa vẫn c n đƣợc dùng không phải để nâng cao mức sống của quần chúng trong nƣớc đó, vì nhƣ thế sẽ đi đến kết quả là giảm bớt lợi nhuận của bọn tƣ bản, mà là để tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tƣ bản ra nƣớc ngoài vào nh ng nƣớc lạc hậu. trong các nƣớc lạc hậu này lợi nhuận thƣơng cao: vì tƣ bản hãy c n ít, giá đất đai tƣơng đối thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ.
ĐTNN thƣờng đƣợc thực hiện dƣới dạng FDI (FDI- Foreign Direct Investment) và đầu tƣ gian tiếp nƣớc ngoài. Đầu tƣ gian tiếp nƣớc ngoài “Là một loại hình trao vốn quốc tế trong đó chủ đầu tƣ b vốn đầu tƣ nhƣng không trực tiếp quản lý và điêu hành hoạt động sử dụng vốn” Hiện này, đầu tƣ gían tiếp nƣớc ngoài chủ yếu đƣợc tiến hành dƣới 3 hình thực sau: (sơ đồ so sánh hoạt động FDI và ODA) Sản xuất kinh Vốn thu hồi doanh hàng Ngƣời Ngƣơi hoá, dịch vụ quảnlý và đầu tƣ sử dụng vốn Đầu tƣ trực tiếp Đầu tƣ gián tiếp 18 Luan van + Viện trợ phát triển chính thức ( Otticial Development Asistance) viết t t là ODA. Đây là nguồn viện trợ song phƣơng hoặc đa phƣơng dƣới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp và thƣờng đi kèm với các điều kiện khác nhau. +Tín dụng thƣơng mại: là hoạt động vay và cho vay vốn với lãi suất thị trƣờng gi a các ngân hàng, các tổ chức tài chính quốc tế, các chính phủ + Đầu tƣ vào cổ phiếu, trái phiếu của nƣớc ngoài (Foregn Portfolio Investment), viết t t là FDI.
Với loại hình này, ngƣời nƣớc ngoài tham gia đầu tƣ vào trái phiếu chính phủ, trái phiếu hoặc mua cổ phếu của công ty nƣớc ngoài với chỉ gia thấp chƣa đủ để tham giam vào các ban điều hành doanh nghiệp (theo luật doanh nghiệp từng bƣớc). Chủ đầu tƣ đƣợc hƣởng lãi suất cho vay hoặc lợi tức cổ phần. Nhƣ vậy, có thể thấy ĐTNN có nhiều hình thức phong phú và đa dạng, tuy nhiên trong khuân khổ luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu về lĩnh vực FDI. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là hình thức đầu tƣ dài hạn của cá nhân hay công ty nƣớc này vào nƣớc khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nƣớc ngoài đó sẽ n m qyuền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Tổ chức thƣơng mại thế giới đƣa ra định nghĩa nhƣ sau về FDI xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc ( Nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣớc một tài sản ở một nƣớc khác(nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó phƣơng diện quản lý là một thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trƣờng hợp, cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong nh ng trƣờng hợp đó, nhà đầu tƣ thƣờng hay đƣợc gọi là “ công ty mẹ” và các tài sản đƣợc gọi là “ công ty con” hay “ chi nhánh công ty”.
19 Luan van Có nhiều quan niệm khác nhau, tuy nhiên xét chung, FDI có nh ng đặc điểm cơ bản sau: + Nhà đầu tƣ quyết định đầu tƣ, quyết định sản xuất, kinh doanh.