Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản 1. Đầu tư Theo từ điển tiếng Việt: Đầu tư là bỏ công sức, tiền bạc vào việc gì đó để có được lợi ích [29, tr.164] Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đầu tư được hiểu: “là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Như vậy, đầu tư có thể được hiểu là sự bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại, gồm: tiền, của cải, công nghệ, đội ngũ lao động, trí tuệ, bí quyết công nghệ., để tiến hành một hoạt động nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai. Trên góc độ kinh tế, đầu tư là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế. Đối với từng cá nhân, đơn vị đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ. Đối với nền kinh tế đầu tư là yếu tố quyết định sự phát triển nền sản xuất xã hội, là cơ sở của sự tăng trưởng.
Đầu tư cơ bản: Là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội (KT-XH) khác nhau. Trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động, 7 tư liệu lao động, đối tượng lao động. Khác với đối tượng lao động, các tư liệu lao động là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó thành mục đích của mình. Xét về mặt tổng thể thì không một hoạt động đầu tư nào mà không cần phải có các tài sản cố định, nó bao gồm toàn bộ cơ sở kỹ thuật đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả từng thời kỳ.
Đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức: Xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới các TSCĐ được gọi là đầu tư XDCB.
XDCB chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tư XDCB. XDCB là các hoạt động cụ thể để tạo ra TSCĐ, như: khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt. Dự án đầu tư xây dựng cơ bản 1. Dự án đầu tư xây dựng cơ bản Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một tập hợp những đề xuất bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo, nâng cấp những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định [20, tr.
Công trình đầu tư xây dựng cơ bản là sản phẩm, kết quả của các dự án đầu tư nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, của toàn xã hội được đầu tư bằng nguồn vốn của nhà nước và các nguồn vốn hợp pháp khác. Nói đến công trình đầu tư, người ta thường quan tâm nhiều đến tính năng sử dụng hơn 8 là nguồn vốn đầu tư để tài trợ chúng. Một công trình đầu tư được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn sẽ giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Xác định thứ tự ưu tiên hay tầm quan trọng tương ứng của một dự án trên cơ sở của một hệ thống tiêu chuẩn lựa chọn, sàng lọc, phân loại và xếp hạng dự án rõ ràng, nhất quán và luôn được cập nhật cho phù hợp với tình hình thực tế. Tập trung nguồn lực vào những dự án có hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất, nhờ vậy chúng có thể thực thi nhanh chóng và phát huy hiệu quả trong thời gian hợp lý.
Ngân sách nhà nước và dự án đầu tư công Ngân sách nhà nước: Theo quy định tại Điều 4, Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Trong đó: Thu ngân sách nhà nước bao gồm: Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi ngân sách nhà nước bao gồm: Chi đầu tư phát triển; chi dự trữ quốc gia; chi thường xuyên; chi trả nợ lãi; chi viện trợ; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. 9 Theo quy định tại khoản 13, Điều 4, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Dự án đầu tư công là dự án đầu tư sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công.
Trong đó, vốn đầu tư công bao gồm: vốn ngân sách nhà nước; vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật. Lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, gồm: Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích.
Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư. Vai trò và đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN Đầu tư ngân sách nhà nước cho XDCB có vai trò hết sức quan trọng đối với toàn xã hội. Dưới giác độ của đầu tư, NSNN cho đầu tư XDCB làm tăng tổng cầu của nền kinh tế trong ngắn hạn, qua đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống để kích thích tăng trưởng kinh tế. Việc sử dụng NSNN đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư cho duy trì, phát triển hệ thống hàng hóa công cộng và phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn có quy mô lớn.
Từ đó, khi đầu tư hoàn thành sẽ làm tăng tổng cung trong dài hạn và tạo tiền đề cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng cho phát triển kinh tế. Sử dụng NSNN cho đầu tư XDCB góp phần làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, sử dụng và bố trí lại hợp lý có hiệu quả các nguồn lực, tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế. Ngân sách nhà nước sử dụng cho đầu tư XDCB sẽ góp phần tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, làm 10 chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, giải phóng và phân bổ hợp lý các nguồn lực sản xuất. Trên cơ sở đó, làm cho lực lượng sản xuất không ngừng phát triển cả về mặt lượng và chất.
Đồng thời, lực lượng sản xuất phát triển sẽ tạo tiền đề vững chắc để củng cố quan hệ sản xuất. Với chức năng tạo lập, duy trì, phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế xã hội và phát triển kinh tế mũi nhọn, NSNN cho đầu tư XDCB làm phát triển nhanh hệ thống hàng hóa công cộng, tạo cơ sở vững chắc cho phát triển lực lượng sản xuất…Từ đó, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội sẽ không ngừng được tăng cường, làm tiền đề vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thông qua đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, NSNN cho đầu tư XDCB tạo điều kiện cho nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế và áp dụng nhanh các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật của nhân loại thông qua nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến. Quá trình tham gia phân công lao động quốc tế và áp dụng nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho nền kinh tế chủ động trong hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Sử dụng NSNN cho đầu tư XDCB một mặt đầu tư cho phát triển kinh tế, một mặt đầu tư cho sự nghiệp xóa đói nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết các vấn đề xã hội, kiềm chế được phần nào mặt trái của kinh tế thị trường làm cho nền kinh tế phát triển một cách bền vững. NSNN cho đầu tư XDCB đã góp phần điều tiết đầu tư của toàn xã hội, tác động vào tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, từ đó cung cấp kịp thời thông tin cho Nhà nước để điều chỉnh những tác động của mình. Thông qua điều chỉnh tác động vĩ mô theo yêu cầu thường xuyên biến đổi của thực tiễn làm cho năng lực quản lý của Nhà nước không ngừng được nâng cao. Quản lý nhà nước về đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư XDCB từ NSNN 1.