CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TỪ XA ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ đại học Lịch sử phát triển GD&ĐT đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐTTX. Theo thời gian, từ lúc sơ khai của ĐTTX là đào tạo hàm thụ, thông qua việc giảng dạy cho các giáo sĩ nhà thờ bằng cách gửi thư trao đổi vào những năm 50 - 60 sau công nguyên theo lối gửi thư (correspondence study) nhưng chỉ giới hạn tổ chức trong giáo hội.
Mãi cho đến những năm 1840 tại Anh, Isaas Pitman đã tổ chức đào tạo tốc ký theo hình thức hàm thụ, đây là lớp học hàm thụ đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử ĐTTX [90]. Năm 1922, ở NewZeland đã bắt đầu nghiên cứu và tổ chức loại trường hàm thụ. Giai đoạn này, ĐTTX vẫn là dạng ĐTTX cấp thấp, người học chủ yếu vẫn thông qua thư từ tài liệu, sách vở. Ở Canada cũng thế đến năm 1929, Vancouver sáng lập trường hàm thụ nhưng chỉ triển khai ở bậc sơ trung học.
Tiếp đến, vào năm 1927 lần đầu tiên ở Anh đã thực hiện chương trình giảng dạy đầu tiên trên đài BBC. GV đến đài phát thanh để ghi âm bài giảng và sau đó phát sóng, đây vẫn chỉ là hình thức truyền thụ kiến thức chưa có tổ chức quản lý đào tạo. Năm 1939, tại trường ĐH IOWA - Hoa Kỳ, người ta đã tổ chức giảng dạy có sự hỗ trợ của các thiết bị kỹ thuật thông qua phương tiện điện thoại, kết hợp với biên tập và phát tài liệu hướng dẫn tự học cho SV. UNESCO từ những năm 1996 và 2009 [87] đã có những nhận định, đánh giá về ĐTTX: “ĐTTX là hình thức giáo dục có triển vọng nhất của thế kỷ 21 và là hình thức giáo dục sẽ ngự trị trong tương lai vì nó hỗ trợ tích cực xã hội học tập” vì “giáo dục là một quyền con người cơ bản và là một giá trị nhân bản phổ quát và nó sẽ được làm cho hiện hữu trong cả cuộc đời của mỗi cá nhân”.
Thông báo do UNESCO công bố tại Hội nghị thế giới về Giáo dục ĐH tại Paris năm 2009 (WCHE-2009) cũng đã khuyến cáo: “Cần hỗ trợ khai thác tích hợp đầy đủ hơn ICT và thúc đẩy giáo dục từ xa nhằm đáp ứng nhu cầu tăng nhanh giáo dục ĐH”. Trong nước, những năm gần đây xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời, vấn đề liên quan đến ĐTTX trong đào tạo nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH và HNQT đã được sự quan tâm của xã hội, là hướng nghiên cứu của giới khoa học với nhiều luận án, công trình nghiên cứu: Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (2001) [64] trong tác phẩm Tự đào tạo, tự học, tự nghiên cứu, tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh khác nhau trong 8 ĐTTX. Tác giả đã đưa ra quan điểm về ĐTTX, đặc biệt nhấn mạnh đến việc tự học, tự nghiên cứu của người học bên cạnh sự hỗ trợ, phụ đạo, hướng dẫn của đội ngũ GV trong ĐTTX. Tác giả nêu việc chú trọng phát triển ĐTTX với quan điểm đây là hình thức đào tạo góp phần quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Đồng thời, tác phẩm cũng nêu rõ những điểm cơ bản để phát huy năng lực tự học. Tác giả Tạ Thế Truyền (2001) [70] đề tài Bồi dưỡng CBQL ngành giáo dục và đào tạo theo hình thức giáo dục từ xa, tác giả đã đề cập đến vai trò GV về giảng dạy, hướng dẫn trong ĐTTX, ĐTTX được nhìn nhận và phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau như: góc độ về kinh tế học giáo dục, góc độ về giáo dục học. Tác giả đã có đánh giá tình hình chung về ĐTTX ở Việt Nam, thực trạng triển khai ĐTTX ở Việt Nam. Tác giả Triều Hải Hoàng (2004) [38] với bài viết ĐTTX – Một hình thức thực hiện xã hội hóa giáo dục cần nhân rộng, tác giả đề cập đến việc thực hiện sự công bằng trong giáo dục, tạo điều kiện mọi người dân có cơ hội học tập, để đáp ứng yêu cầu này thì ĐTTX phù hợp nhất đối với tiến trình xã hội hóa giáo dục cho người dân.
Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến những kinh nghiệm ban đầu đạt được về ĐTTX của các CSĐT trên cả nước, đặc biệt là các CSĐT có ĐTTX. Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Hải Yến (2012) [65] tác phẩm Xã hội học tập, học tập suốt đời và các kỹ năng tự học, đề cập đến những hạn chế của đào tạo CQ và bối cảnh xã hội đòi hỏi cần phải có ĐTTX. Triết lý của sự thống nhất giữa chất lượng và số lượng, vai trò trọng tâm của ĐTTX trong hệ thống giáo dục không CQ. Các tác giả còn phân tích những yếu tố cần thiết chứng minh để ĐTTX trở thành mũi nhọn trong chiến lược giáo dục của Việt Nam.
Đồng thời cũng nêu những kỹ năng cần thiết trong việc tự học, tự nghiên cứu, bên cạnh sự hướng dẫn của giáo viên mà nói theo ngôn ngữ của các tác giả là “thầy ngoài”, đây là vấn đề cốt lõi trong học tập theo ĐTTX, có tính đến đặc thù của Việt Nam. Từ các công trình nghiên cứu kể trên, có thể khái quát rằng: ĐTTX đã và đang được các nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới quan tâm nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo, trong đào tạo nhân lực, việc triển khai đào tạo trên ngày càng được tổ chức khá rộng rãi với mục tiêu đáp ứng được các nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cho nhiều trình độ khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề ĐTTX đáp ứng nhu cầu trình độ ĐH trong điều kiện và yếu tố vùng miền cụ thể đang là vấn đề bỏ ngõ. Trong đề tài này, tiếp tục được tác giả nghiên cứu với nội dung ĐTTX đáp ứng nhu cầu trình độ ĐH vùng ĐBSCL.
Các nghiên cứu về quản lý đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ đại học Quản lý ĐTTX đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH, cũng đã được quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước với một số công trình và tác 9 giả nghiên cứu tiêu biểu như: Tác giả Keegan [7] khi nghiên cứu về quản lý ĐTTX đã đưa các đặc điểm trong cách thức quản lý của ĐTTX được khái quát như sau: GV và SV ít gặp nhau trong quá trình học tập, điều này giúp phân biệt ĐTTX với đào tạo truyền thống. Ảnh hưởng của việc tổ chức đào tạo trong việc lập kế hoạch, chuẩn bị tài liệu học tập và hỗ trợ cho SV trong học tập, tiếp thu kiến thức. Sử dụng phương tiện kỹ thuật, in ấn, hệ thống đài phát thanh, truyền hình, video hoặc máy vi tính để liên kết GV với SV và nhằm truyền đạt các nội dung giảng dạy. Có nội dung liên hệ hai chiều để SV tiếp nhận được những điều bổ ích từ cuộc đàm thoại, trao đổi.
Điều này phân biệt ĐTTX với việc sử dụng công nghệ vào mục đích khác trong giáo dục - đào tạo. Sự phân tán thường xuyên của lớp học trong một quá trình học tập nhằm để cho mỗi cá nhân có điều kiện và thời gian tự học. Giao tiếp giữa GV-SV và giữa SV- SV có thể thực hiện bằng các phương pháp nhờ các công cụ e-mail và các cuộc gặp gỡ trao đổi đồng bộ và không đồng bộ trực tuyến; Mô hình học tập linh hoạt trí tuệ (intelligent flexible learning) chỉ khác mô hình trên nhờ vào việc bổ sung sử dụng các công nghệ trực tuyến bao gồm các cơ sở dữ liệu và hệ thống trả lời tự động. Theo tác giả Amena Begum và Jesmin Pervin [89] đề cập đến vấn đề lớn và quan trọng nhất của ĐTTX là chất lượng ĐTTX.
Cốt lõi chính là quản lý như thế nào để hướng đến chất lượng, bài viết đề cập và khảo sát một số khía cạnh về quản lý chất lượng nói chung và đảm bảo chất lượng nói riêng của ĐTTX. Trong nước, một số đề tài, công trình nghiên cứu về quản lý ĐTTX có tính lý luận và thực tiễn cao như: Tài liệu Hỗ trợ học từ xa (Dự án Việt - Bỉ) (2000) [7] là công trình tổng quát về ĐTTX, đề cập cụ thể đến phương pháp giáo dục cho người trưởng thành và ĐTTX, xây dựng công nghệ ĐTTX. Đồng thời, tài liệu cũng nêu lên các cách thức đào tạo GV từ xa cùng các điều kiện, yêu cầu để tổ chức thực hiện. Tác giả Bùi Thanh Giang (2008) [27] trong tác phẩm Các công nghệ ĐTTX 1 và học tập điện tử (e-learning), đã phân tích, nêu rõ các mặt ưu điểm cũng như hạn chế của ĐTTX.
Tác giả xây dựng quy trình phát triển học liệu cho ĐTTX, đồng thời giới thiệu các công nghệ trong ĐTTX như các tài liệu giấy in; thiết kế học liệu bằng công nghệ giấy in; các công nghệ âm thanh/lời thoại. Tác giả Trình Thanh Hà (2011) [30] Luận án tiến sĩ Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bảo đảm chất lượng đào tạo ĐH từ xa ở Việt Nam, tác giả đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận về đảm bảo chất lượng đào tạo ĐH từ xa, các yếu tố cần quan tâm, các thành tố đảm bảo tính hệ thống, đảm bảo chất lượng cho đào tạo ĐH từ xa. Trên cơ sở các lý luận đã được nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp cần thiết nhằm bảo đảm chất lượng ĐTTX theo hướng đổi mới và đáp ứng nhu cầu của xã hội trong bối cảnh của Việt Nam. Tác giả Đặng Văn Dân (2014) [21] Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cầu ĐTTX ở Việt Nam, tác giả đã phân tích và làm rõ các nhân tố tác động đến cầu ĐTTX.
Tác giả còn đề cập đến các kinh nghiệm tổ chức và quản lý ĐTTX tại các nước ở Đông Nam Á và khu vực, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thúc đẩy và phát triển ĐTTX tại Việt Nam. Ngoài ra, tác giả đánh giá thực trạng và nêu rõ các mặt yếu kém của ĐTTX ở Việt Nam, đề xuất các khuyến nghị về chính sách và tác động của Nhà nước đến ĐTTX. Từ các công trình nghiên cứu về quản lý ĐTTX trong và ngoài nước, tổng quát về quản lý ĐTTX đáp ứng trình độ ĐH.