Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO ĐẶT HÀNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp Đào tạo đáp ứng NCXH xuất hiện trong nền kinh tế thị trường. Cùng với sự phát triển của nền KTTT, các nhà khoa học của nước phát triển trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐT đáp ứng NCXH, nhu cầu DN trong nền KTTT.
Về đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu của thị trường lao động Một số nghiên cứu đã đề cập đến những đặc điểm của ĐT đáp ứng NCXH như: Công trình Continuing Vocational Training Survey [87] của Ireland đã cho thấy GD thường xuyên được phát triển khá phổ biến trong ĐT nghề tại Ireland để đáp ứng cho nhu cầu nhân lực của xã hội và nhu cầu học nghề của người học. Tác phẩm Training Programmes Based on Modules of Employable Skill - MES [91] Elizabeta Strojna, Modular Design in TAFE courses của Donnel O. [89] và Developing Modules for Technical and and Vocational Education của tổ chức APEID [82] đều đã đề cập đến ĐT nghề theo mô đun để đáp ứng nhu cầu nhân lực rất đa dạng của xã hội cũng như để tạo thuận lợi cho người học có thể cần gì học nấy, học suốt đời. Halhijoki và các cộng sự đã công bố công trình Education, training and demand for labour in Finland by 2025 [97] đề xuất mô hình Mitenna gồm bảy giai đoạn để dự báo nhu cầu lao động của xã hội trong tương lai, đồng thời cho thấy các DN sẽ có NCĐT khá lớn vào những giai đoạn thay đổi công nghệ.
Công trình Training in America: The Organization and Strategy Role of Training [86], Carnevale A. đã nêu lên chiến lược phát triển ĐT nghề ở Hoa Kỳ là phải phát triển cả ĐT dài hạn lẫn ngắn hạn để đáp ứng cho nhu cầu nhân lực của xã hội. Tổ chức UNESCO and ILO đã xuất bản cuốn Technical and vocational education and training for the twenty - first century [115], trong đó đã khuyến cáo phải chú trọng tới việc học suốt đời để đáp ứng cho nhu cầu học tập của người lao động trước sự phát triển như vũ bão của KHCN. Tác phẩm Developing Training Material Guide, Mo Hamza [104] quan tâm đến một nhóm đối tượng khác trong xã hội là người lớn và đã phát hiện ra rằng đối với các khóa ĐT ngắn hạn thường là người lớn đi học và đưa ra những đặc điểm của người lớn đi học.
Garry Bargh [93] 11 trong cuốn Costing and Pricing of VET Products and Services đã đề xuất Chính phủ có thể hỗ trợ các nhóm yếu thế trong xã hội để họ có việc làm thông qua trả tiền cho các khóa ĐT mà họ tham gia. Nói một cách khác, Chính phủ sử dụng ngân sách để chi trả cho việc ĐT một loại đối tượng cần được xã hội quan tâm là nhóm yếu thế trong xã hội. Vũ Ngọc Hải trong công trình Cung - cầu giáo dục [28] đã coi quy luật cung - cầu trong GD tương đồng với quy luật cung - cầu kinh tế. Trong tác phẩm Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam [43], Phan Văn Kha đã nêu lên cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa ĐT với sử dụng nhân lực trong cơ chế thị trường.
Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha trong cuốn Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế [26] đã nêu lên các phương pháp tiếp cận, cơ sở lý luận về ĐT nhân lực trong cơ chế thị trường. Những công trình nêu trên đã đề cập đến những vấn đề vĩ mô về ĐT trong nền KTTT như quan điểm, các quy luật của nền KTTT, các phương pháp tiếp cận về ĐT trong nền KTTT, cơ sở lý luận về ĐT nhân lực trong cơ chế thị trường. Về ĐT đáp ứng NCXH có các công trình như: Đào tạo theo nhu cầu xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp của Bành Tiến Long [47], công trình Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội - quan niệm và giải pháp thực hiện [25] của Nguyễn Minh Đường và Nguyễn Thị Hằng, công trình Đào tạo theo nhu cầu xã hội của Phan Văn Nhân [52], công trình Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đối với giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay của Nguyễn Huy Vị [78], công trình Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội của Phan Minh Hiền [30]. Những công trình này đã nêu lên quan điểm, cách tiếp cận cũng như cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐT đáp ứng NCXH trong nền KTTT, đồng thời cũng đã nêu lên thực trạng và một số giải pháp để phát triển ĐT nhân lực trong nền KTTT.
Cũng đã có một số luận án Tiến sĩ nghiên cứu về ĐT gắn với NCXH như: Luận án Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa tác giả Phan Chính Thức [61], đã đề xuất một số giải pháp ĐT nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Luận án Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội của Phan Minh Hiền [30] đã đề xuất một số giải pháp như: Phát triển hệ thống thông tin ĐT nghề đáp ứng NCXH; Xây dựng cơ chế QL quan hệ hợp tác ĐT và sử dụng nhân lực. Về đào tạo đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp 12 Một số nghiên cứu đã đề cập đến những đặc điểm của ĐT đáp ứng nhu cầu DN như: Công trình Training in America: The Organization and Strategy Role of Training [86], Carnevale A. cho thấy ở Hoa Kỳ đã sớm ĐT công nhân theo mô đun để đáp ứng cho dây chuyền sản xuất của các hãng General Motor và Ford vào những năm 20 của thế kỷ trước.
Công trình Matching demand and supply in enterprise-based training của Bernd Kapplinger [84] đã cho thấy ĐT tại DN là phương pháp ĐT tốt nhất để ĐT đáp ứng nhu cầu DN, bởi lẽ với phương thức này người học được học ngay tại vị trí việc làm của DN và tiếp cận với ngay được với các công nghệ sản xuất tiên tiến và phương tiện sản xuất hiện đại mà nhà trường thường không có được. Trong công trình Matching supply and demand for skills: International Perspectives của Jack Keating [98], tác giả cho rằng một xu thế trong ĐT nghề trên thế giới là nhà trường phải trang bị cho người học những kỹ năng cần thiết mà người sử dụng lao động cần. Công trình From your business to our business: Industry and vocational education in Australia của Stephen Billett [113] cũng đã nêu lên những kinh nghiệm trong ĐT nghề ở Úc là dịch vụ ĐT của nhà trường phải hướng tới dịch vụ sản xuất kinh doanh của DN. Công trình Experience of Industrial Needs Orientation in Vocational Technical Education on Secondary Level in Republic of Korea - Experience and Education của Se Yung Lim [111] đã đề cập đến những kinh nghiệm về ĐT nghề hướng tới nhu cầu DN.
Các công trình The theory & practice of training của Roger Buckley [110] và Enterprise Based Training (EBT) and Enterprise Growth, Productivity and Innovativeness among manufacturing firms in Nairobi của George Mbugua [95] đã nêu lên lý luận về ĐT nghề trong nền KTTT là các cơ sở ĐT phải lấy DN làm cơ sở để triển khai ĐT. Một số nghiên cứu đã đề cập đến GD thường xuyên và ĐT theo năng lực thực hiện để phát triển nguồn nhân lực cho các DN như: Tác phẩm Employee Training and Development của Raymond A. Noe [109] cho rằng, hiện tại các DN thường phối hợp với các trường đại học để ĐT cho mình. Các công trình Learning for Jobs của OECD [108], công trình Employee Training and Development của Raymond A.
Noe [109] và công trình From University to Employment của Bartlett [83] đã khẳng định nơi làm việc là môi trường học tập rất quan trọng và ĐT nhân lực cho các DN là một yêu cầu bức thiết, những công trình này đã gợi ra ý tưởng ĐT gắn với việc làm tại các DN. Các tác giả cũng đã nêu lên quy luật cung - cầu trong ĐT và các cơ sở ĐT phải xuất phát từ nhu 13 cầu nhân lực của DN đồng thời cũng đã nêu lên yêu cầu về chuẩn đầu ra, nội dung CTĐT và nội dung đánh giá trong ĐT đáp ứng nhu cầu DN. Công trình Một số giải pháp về đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp của tác giả Mạc Văn Tiến [63], theo tác giả để khắc phục mối gắn kết giữa nhà trường và DN còn lỏng lẻo, như “con thuyền sử dụng” và “con thuyền đào tạo” còn đi song song, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để khắc phục. Công trình Mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay của Phùng Xuân Nhạ [51 coi dạy nghề tại DN như là một hình thức ĐT cho người lao động và đã nhấn mạnh tầm quan trọng của thiết kế CTĐT phù hợp với từng vị trí công việc trong DN, chương trình ĐT phải mềm dẻo, linh hoạt.
Một số công trình trong nước nghiên cứu về ĐT theo năng lực thực hiện và ĐT theo mô đun để thích ứng với nhu cầu đa dạng của DN cũng như tạo thuận lợi cho việc học suốt đời của người học. Công trình Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và xây dựng tiêu chuẩn nghề của Nguyễn Đức Trí [67], công trình Mô đun kỹ năng hành nghề - Phương pháp tiếp cận, hướng dẫn biên soạn và áp dụng [23] của Nguyễn Minh Đường, những công trình này đã đề cấp đến quan điểm và cơ sở lý luận cũng như nội dung và phương pháp ĐT gắn với sử dụng, với NCXH, nhu cầu phát triển nhân lực trong nền KTTT. Công trình Rèn luyện năng lực dạy học cho sinh viên đại học sư phạm kỹ thuật trong thực tập sư phạm theo tiếp cận năng lực thực hiện của Vũ Xuân Hùng [35] đã đề xuất phương thức ĐT theo năng lực thực hiện và theo mô đun kỹ năng hành nghề đáp ứng NCĐT theo vị trí việc làm của DN cũng như tổ chức thực tập sư phạm cho sinh viên trường đại học sư phạm kỹ thuật.