đặt vấn đề thiết thực lên hàng đầu. Người chỉ rõ: “Phải thiết thực, chu đáo trong công việc huấn luyện” [48]. Nội dung thiết thực theo Bác đó là: Việc xác định và lựa chọn nội dung huấn luyện phải “nhằm đúng nhu cầu”, ngắn gọn, đầy đủ, sát với thực tế và có giá trị thực tế to lớn, đảm bảo cho người học có thể áp dụng, thực hành và đem lại hiệu quả ngay. Bác nói: “Những tài liệu huấn luyện phải nhằm vào sự cần dùng, cần thiết cho quần chúng.
Phải hỏi: Người đến chịu huấn luyện rồi, có áp dụng được ngay không? Nếu không thiết thực như thế, thì huấn luyện mấy năm cũng vô ích” [48]. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi người học phải biết vận dụng sáng tạo những điều đã học vào thực tế, phải kết hợp giữa lý luận với thực tế, lý thuyết với thực hành: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách” [48].
Do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đã thể hiện về xây dựng nền giáo dục cách mạng nhằm phát triển hoàn toàn những năng lực vốn có của người học; nó là tiền đề lý luận - thực tiễn hết sức quan trọng cho việc đổi mới quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội hiện nay theo tiếp cận phát triển năng lực. Trong công trình nghiên cứu về “Năng lực trong giáo dục, đào tạo, và phát triển nguồn nhân lực”, tác giả Nguyễn Hữu Lam đã tổng thuật khá chi tiết về giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển năng lực của người học [54]. Tác giả đã phân tích các nhược điểm phổ biến của thực tiễn giáo dục, đào tạo và quản lý trên thế giới: Hệ thống và các chương trình GD&ĐT và quản lý được cung cấp 14 bởi các trường quá nặng về phân tích, không định hướng thực tiễn và hành động; thiếu và yếu trong phát triển kỹ năng quan hệ qua lại giữa các cá nhân; thiển cận, hạn hẹp, không có tiếp cận toàn diện tổng thể trong những giá trị và tư duy của nó; không giúp người học làm việc tốt trong các nhóm và đội làm việc. Từ đó, ông đòi hỏi giáo dục, đào tạo hiện đại phải tiếp cận theo phát triển dựa trên mô hình năng lực của người học.
Mô hình năng lực chú trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức, tức là nó chú trọng vào “con người phương tiện” chứ không phải “con người mục đích”. Trong một chừng mực nhất định, nó dựa trên quan điểm hành vi trong giáo dục. Vì thế, những nhược điểm của quan điểm hành vi trong giáo dục cần được quan tâm, chú ý khi áp dụng mô hình năng lực và phải được bổ sung bởi những tiếp cận khác để đạt tới các mục tiêu giáo dục, đào tạo và phát triển cụ thể. Mô hình năng lực được sử dụng như một công cụ tuyển lựa CB, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và những chỉ dẫn cụ thể cho hoạt động giáo dục đào tạo và phát triển.
Vì thế, cần nhận thức nó là công cụ chứ không phải là mục tiêu; việc nhầm lẫn giữa phương tiện và mục tiêu luôn là một hiện tượng thường xảy ra trong cuộc sống và dẫn tới những hậu quả tai hại. Điều có tính tiên quyết để việc áp dụng mô hình năng lực có hiệu quả là phải có một danh mục các năng lực được thiết kế một cách cẩn thận, có cơ sở khoa học, phù hợp với bối cảnh thực tế của đất nước và của các tổ chức. Những mô hình tốt ở các nước phát triển cũng đã được nghiên cứu và kiểm định ở các nước khác, đặc biệt là các nước đang phát triển, cho thấy hầu hết các năng lực là phù hợp. Tuy nhiên như đề cập ở phần trên, năng lực là sự kết hợp giữa tiềm năng của cá nhân với đòi hỏi của nhiệm vụ ở khía cạnh văn hóa và những đặc điểm cụ thể của bối cảnh có ảnh hưởng mạnh mẽ tới danh mục, tầm quan trọng và mức độ của các năng lực cần thiết.
Vì thế, những nghiên cứu nghiêm túc và cụ thể cần được thực hiện, cập nhật thường xuyên trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa và thay đổi nhanh hiện nay. Về phát triển năng lực của người học, đã có các công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực dạy học khác nhau. Tác giả Nguyễn Thị Liên [46] đã nghiên cứu, 15 đề xuất những vấn đề như sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, kinh tế tri thức… Đó là những vấn đề đòi hỏi giáo dục con người, phát triển con người với các năng lực. Năng lực sáng tạo hiện nay đang là vấn đề được chú ý đến như một vấn đề lớn trong giáo dục và nó trở thành một giá trị cao hơn các thời kỳ trước.
Trọng dụng con người, tập trung đầu tư vào trí tuệ, vào nguồn nhân lực có chất lượng cao là mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Tuyết [55] giới thiệu những mô hình phát triển chương trình ĐH theo tiếp cận năng lực. Mục tiêu này cần được xem là một đường lối chiến lược để làm cho GDĐH Việt Nam gắn đào tạo với nhu cầu kinh tế xã hội, để triết lý giáo dục truyền thống khoa cử, từ chương bấy lâu nay buộc phải bị loại bỏ. Theo tác giả, con đường tất yếu để tạo nên mô hình đào tạo chất lượng tương ứng với chuẩn quốc tế không gì khác hơn là phải triển khai chiến lược đào tạo và QLĐT theo hướng tiếp cận năng lực, nghĩa là không chỉ chú trọng khối lượng kiến thức mà quan trọng hơn là kỹ năng và thái độ, phẩm chất trong sự tổng hòa của chúng.
Bàn đến vấn đề này, trong đào tạo nghề, tác giả Cao Văn Sâm đã khẳng định: “Để có thể thực hiện có hiệu quả triết lý đào tạo theo năng lực thực hiện thì việc trước tiên các chương trình khung đào tạo nghề cần phải được tổ chức xây dựng (đối với chương trình mới) và điều chỉnh (đối với chương trình cũ) theo đúng hướng tiếp cận theo năng lực thực hiện, mà bản chất là dạy nghề gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, giữa học với hành, giữa giáo dục đào tạo gắn liền với sản xuất” [54]. Nghiên cứu về năng lực, các nhà giáo dục, quản lý giáo dục đều thống nhất cho rằng: Năng lực được xem là sự tích hợp sâu sắc của kiến thức - kỹ năng - thái độ làm nên khả năng thực hiện công việc chuyên môn và được thể hiện trong thực tiễn hoạt động. Năng lực thực hiện nghề nghiệp chuyên môn của một người tốt nghiệp ĐH được xem là tổng thể của bốn thành tố: năng lực kĩ thuật; năng lực phương pháp; năng lực xã hội và năng lực cá nhân. Như vậy, kết quả các công trình nghiên cứu về đào tạo và QLĐT nhằm phát triển năng lực người học đã xuất hiện rất sớm và không ngừng phát triển trong lịch sử giáo dục Việt Nam.
Đặc biệt trước yêu cầu của xã hội hiện đại, việc 16 đào tạo theo tiếp cận năng lực đã trở thành xu thế tất yếu, phổ quát đối với các cấp học, bậc học, nhất là trong đào tạo nghề. Đào tạo theo tiếp cận năng lực đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề, trong đó cốt lõi là xây dựng, quản lý CTĐT, phát triển đội ngũ và xây dựng, hiện đại hóa CSVC, trang thiết bị đào tạo. Đây là những căn cứ khoa học cho việc vận dụng trong QLĐT theo tiếp cận năng lực nói chung và QLĐT ThS ngành LL&PPDHBM nói riêng. Những nghiên cứu về đào tạo thạc sĩ theo tiếp cận năng lực Hiện chưa có nhiều công trình nghiên cứu về về đào tạo thạc sĩ theo tiếp cận năng lực.
Tuy nhiên, gần với đào tạo ThS theo tiếp cận năng lực, có các nghiên cứu đề cập đến đào tạo nhân lực chất lượng cao cho giáo dục nói chung theo tiếp cận năng lực. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc [55], ở Mỹ đã có những công trình nghiên cứu nổi tiếng về vấn đề này. Có thể kể đến Christopher J. Lucas với tác phẩm “The graduate human resource training for the education sector in the US” - Đào tạo nhân lực sau ĐH cho ngành giáo dục ở Mỹ và “The policies for reforming master training”- chính sách cho cải tổ đào tạo cao học [58].
Bên cạnh những công trình nghiên cứu gần với đào tạo ThS theo tiếp cận năng lực, có các nghiên cứu liên quan đến đào tạo nhân lực nói chung theo tiếp cận năng lực. Năm 1996, tác giả Nguyễn Đức Trí có các công trình “Giáo dục nghề nghiệp hướng đến năng lực, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” và “Quản lý đào tạo trong nhà trường” [95]. Đây được xem là công trình nghiên cứu khá toàn diện về hệ thống đào tạo nghề theo năng lực ở Việt Nam. Một số luận án tiến sĩ liên quan đến vấn đề QLĐT theo năng lực thực hiện đã được thực hiện như: Nguyễn Quang Hưng (2009), “Quản lý đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Thuận” [59 ]; Nguyễn Thị Thu Thủy (2012), “Quản lý đào tạo giảng viên Lý luận chính trị đáp ứng nhu cầu thời kỳ đổi mới hiện nay” [60], Nguyễn Văn Tùng “Cơ sở khoa học và biện pháp quản lý đào tạo theo hướng đảm bảo chất lượng tại các trường đại học sư phạm kỹ thuật” [61]; Nguyễn Ngọc Lợi “Quản lý đào tạo nhân lực đap ứng nhu cấu chuyển dịch cơ câu kinh tế thành phố Cần Thơ” [62]; Nguyễn Quang Việt 17 (2006), “Kiểm tra đánh giá trong dạy học tiếp cận năng lực thực hiện” [63]; Lê Thùy Linh (2013), “Dạy học giáo dục học ở đại học sư phạm theo tiếp cận năng lực thực hiện” [64].
Những nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào ThS ngành LL&PPDHBM theo tiếp cận năng lực 1. Nghiên cứu về đào tạo ThS ngành LL&PPDHBM Ở góc độ đào tạo về đào tạo ThS ngành LL&PPDHBM, có các nghiên cứu tiệm cận về vấn đề này của Wynne và Mc. Pherson, Daniel Duke, Mark E. Chuyên gia các nước xã hội chủ nghĩa trước đây ở Bungary, Liên Xô, Tiệp Khắc.