phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương: Chương l. Cơ sở lý luận về quản lý quá trình đảo tạo nghề lái xe. Thực trạng quản lý quá trình đảo tạo nghề lái xe tại trường Trung cấp nghề Giao thông vận tải Đồng Tháp. Biện pháp quản lý quá trình đảo tạo nghề lái xe tại trường Trung cấp nghề Giao thông vận tải Đồng Tháp.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY QUA TRINH DAO TAO NGHE LAI XE 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, nghiên cứu lĩnh vực ĐTN được nhiều tổ chức quốc tế, các viên nghiên cứu, các trường đại học, nhà khoa khọc quan tâm. Nhìn chung, các nghiên cứu được thực hiện dưới 2 dạng: Nghiên cứu về vấn đề ĐTN nói chung và cơ sở ĐTN nói riêng.
Nghiên cứu chuyên sâu về chất lượng và hiệu quả của công tác ĐTN, công tác quản lý ĐTN. Nội dung chủ yếu mà các nghiên cứu để cập đến là xác định kế hoạch, phương pháp, nội dung, thực trạng công tác ĐTN. Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) là tô chức quốc tế lớn quan tâm đến GD-ĐT. Các nghiên cứu, cẩm nang hướng dẫn, chương trình hợp tác, dự án phát triển của UNESCO khá nhiều, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung.
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống, chất lượng và hiệu quả của GD-ĐT. Năm 2013, UNESCO xuất bản cuốn “UNESCO Handbook on Education Policy Analysis and Programming” (Cẩm nang phân tích chính sách và kế hoạch hóa giáo dục). Cam nang nay của UNESCO để xuất một phương pháp hệ thống và cấu trúc hóa nhằm hỗ trợ việc phân tích các chính sách GD-ĐT cũng như kế hoạch hóa lĩnh vực này để tăng cường khả năng tiếp cận, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý, giải quyết các vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực đối với mọi cấp trình độ, loại hình GD-ĐT của mỗi quốc gia. Cảm nang cung cấp khung lý thuyết phân tích chính sách, hoạch định, đưa ra các hướng dẫn để phân tích chính sách và hoạch định chương trình GD-ĐT [13].
Hiệp hội phát trién gido duc (Development Education Association) 'Vương quốc Anh là một tổ chức nghề nghiệp, hoạt động vì mục tiêu phát triển hệ thống GD-ĐT, nâng cao năng lực của các thành viên hiệp hội, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của GD-ĐT và ĐTN. Năm 2001, Hiệp hội nghiên cứu và công bố xuất bản tác phẩm với tén goi “Measuring effectiveness in development edueation" (Đo lường hiệu quả trong giáo dực phát triển). Nghiên cứu này đưa ra các nguyên tắc khi phân tích, đánh giá một hệ thống GD; các mục tiêu đánh giá, đo lường hiệu quả; định nghĩa các khái niệm về đánh giá, hiệu quả, tác động lan tỏa, các chỉ số đo lường hiệu quả; các cấp độ hiệu quả: cấp độ cá nhân người học; cấp độ cơ sở GD-ĐT; cấp độ đầu tư của nhà nước; cấp độ hiệu quả nền trên toàn bộ bình diện nẻn kinh tế và bình điện XH.Moelleman, (1993) trong cuốn “7hông fin chuyên đề hệ thống đào tạo kép” ở Cộng hòa Liên bang Đức, đã giới thiệu về cơ cấu tổ chức của hệ thống đào tạo kép, quy chế đào tạo và chương trình giảng dạy các trường. Tác giả đánh giá một số đặc điểm mô hình ĐTN mang lại sự thành công cho Cộng hòa Liên bang Đức, trong đó nhấn mạnh yếu tố đảo tạo.
theo nhu cầu, gắn với thực tiễn, vai trò các tổ chức sản xuất trong ĐTN [31]. Vagas Zuniga, F (2004) trong cuén “Quatity mannagemet in vacational training " đã viết về quản lý ĐTN. Tác giả nghiên cứu những đặc điểm và khuynh hướng quản lý chất lượng đang thể hiện trong ĐTN, những tiêu chuẩn đánh giá và những vấn đề đánh giá chất lượng [30]. Ngoài ra, còn có các hướng nghiên cứu kết hợp đánh giá tới chất lượng.
của các mô hình, cơ sở ĐTN khác, nhưng có thê nhận thấy đều đề cập đến nội dung cơ bản của công tác ĐTN như tầm quan trọng, kế hoạch, phương pháp., và được các tô chức, cá nhân nghiên cứu dưới các góc độ và khía cạnh khác nhau, gắn liền với bối cảnh XH thực tiễn. Nghiên cứu ở trong nước ĐTN là quá trình tổ chức dạy học nhằm truyền đạt một khối lượng kiến thức, kỹ năng, thái độ về một nghề nghiệp cụ thể, người học có thể sử dụng. trong quá trình lao động, theo sự phân công lao động XH. Nghề sinh ra và phát triển theo tiền bộ XH, của KH-KT.
Ngày nay, do sự phát triển nhanh chóng của KH-CN, nhiều nghề trở nên lạc hậu, nhiều nghề mới phát sinh và phát triển. Vì vậy, ĐTN trở thành một nhu cầu quan trọng, thường xuyên trong XH. ĐTN là vấn đề đã và đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn để ĐTN cho người lao động ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Trong chiến lược phát triển KT-XH, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến nhân tố con người, coi sự phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển XH.
Vì vậy, trong công cuộc đổi mới đất nước, GD-ĐT được xem là cơ sở phát triển nguồn nhân lực, con đường cơ bản để phát huy nguồn lực con người. GD-ĐT phải đáp ứng những yêu cầu nhân lực của sự nghiệp CNH, HĐH về cơ cấu ngành nghề, cơ cất trình độ, năng lực, phẩm. chất, giúp người học thích ứng với những chuyển biến của kinh tế trị trường, thị trường lao động. Nguồn nhân lực có chất lượng cao, qua ĐTN đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH.
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 xác định: “Hoàn thiện cơ cấu hệ thống GDNN và đại học; u chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo. nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhụ cầu nhân lực cho phát triển KT-XH; đào tạo ra những con người có năng lực, kỹ năng nghề nghiệp. và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới [26, T]. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: “Tiá tục.
đối mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mi nhọn, công nghệ cao. Gắn với việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao với hệ thống các trường ĐĩN. Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống CSGDNN, mở rộng các hình thức đào tạo đa dạng, linh hoạt, năng động [7. Thực hiện chủ trương của Đảng, trong những năm qua công tác ĐTN ở nước ta đã có những bước phát triển đáng kể.
Mạng lưới cơ sở DN phát triển, quy mô tuyển sinh tăng, chất lượng được cải thiện, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Bên cạnh những kết quả đạt được, DTN van còn nhiều bất cập so với nhu cầu XH, mạng lưới CSGDNN tăng nhưng còn mắt cân đối giữa các vùng miền, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, đây là nguyên nhân dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta còn thấp, chậm hội nhập quốc tế. 'Bước vào thời kỳ đây mạnh CNH, HĐH đắt nước, nguồn nhân lực đang có tình trạng thừa lao động phổ thông nhưng lại thiếu lao động có trình độ, thiếu thợ kỹ thuật các ngành, nghề khu vực kinh tế, khu công nghiệp. Một trong những nguyên nhân chính là do chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu XH, nhu cầu việc làm của các doanh nghiệp và trình độ KH-CN đặt ra.
Vi vay, DTN la nhu cầu quan trọng, thường xuyên trong moi XH. Vin đề quản lý ĐTN đã được nhiều tác giả đề cập ở các công trình nghiên cứu như: Tác giả Nguyễn Minh Đường (2000), “Một số xu thế về ĐTN trước ngưỡng cửa thế kỷ: XXI” [10]; tác giả Phan Văn Kha (1999), “Quản lý giáo đục nghề nghiệp ở Việt Nam " [\§]; chủ biên Nguyễn Minh Đường (2013), “Thực trạng và giải pháp đào tạo lao động kỳ thuật đáp ứng yêu cầu chuyển địch cơ cấu lao động trong nền kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế” [NI]. 10 Ngoài ra, còn có các đề tài nghiên cứu về quản lý GD, đề cập vấn đề ĐTN theo những góc độ khác nhau như: Tác giả Nguyễn Hồng Huy (2010), “Biện pháp quan lý hoạt động đào tạo nghề "của Trường Cao Đăng nghề Phú Yên [17]; tác giả Nguyễn Thanh Khanh (2010), “Đánh giá sự hài lòng của học viên về dịch vụ đào tạo lái xe 6 tô hang BI tai trường Trung học Giao thông Vận tải Huế” [19]; tác giả Nguyễn Duy Thông (2008), “Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề của Trung tâm dạy nghề tỉnh Thừa Thiên Huế" [24]. Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ § khóa XI của Đảng, về đổi mới căn bản, toàn diện của hệ thống GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và dp trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghẻ nghiệp.
Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỳ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế” [§]. Năm 2014, Luật GDNN ra đời dựa trên cơ sở của Luật DN năm 2009, đã khắc phục những. hạn chế, bắt cập trong công tác ĐTN. Bắt cứ nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị: trí thức, kỳ năng, kỹ xảo.
Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi con người phải qua quá trình đào tạo một cách hệ thống đẻ có những kiến thức. chuyên môn nhất định. ĐTN lái xe dựa trên cơ sở ĐTNN của một nghề nhất định. ĐTN lái xe nhằm trang bị cho người học các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp và các kiến thức liên quan, để người học nắm vững các kiến thức một cách có hệ thống, chuẩn bị thích nghỉ với môi trường lao động.
môi trường lái xe.