Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Quản lý đào tạo ở các trường đại học được một số nhà nghiên cứu nước ngoài tiếp cận và kinh nghiệm của một số nước gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và nhu cầu người học theo những cách tiếp cận, đánh giá ở nhiều mức độ, công trình nghiên cứu khoa học rất khác nhau, có thể tổng hợp thành các nhóm vấn đề chính liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài này: - Các nghiên cứu về quản lý đào tạo Quản lý đào tạo là hoạt động thiết yếu có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục nói chung và các trường đại học nói riêng. Quản lý đào tạo cũng giống như quản lý các hoạt động khác đều phải tuân thủ những nguyên lý chung, các chức năng chung của quản lý như: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều hành phối hợp và kiểm tra kiểm soát.
Việc nghiên cứu các nguyên lý quản lý nói chung đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu các nguyên lý quản lý nói chung ở nhiều công trình nghiên cứu khác nhau ngoài nước do các nhà lý luận quốc tế nghiên cứu, có thể kể đến: Frederich Wiliam Taylor (1856-1915), Robert J. Marzano, Koontz và O Donnell (Mỹ); Henri Fayol (1841-1925), Pháp; Feter F. công trình tiêu biểu như: Tác giả Robert J. Marzano (2007), viết cuốn sách “The Art and Science of Teaching: A Comprehensive Framework for Effective Instruction” (Nghệ thuật và Khoa học giảng dạy: Một khuôn khổ toàn diện cho hướng dẫn hiệu quả), nghiên cứu chiến lược lớp học dựa trên khoa học và nghiên cứu.
Nhưng vấn đề là sử dụng tri thức khoa học và kết quả nghiên cứu đó như thế nào. Marzano trình bày một mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy cân bằng dựa vào nghiên cứu trên dữ liệu với việc hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học. Các nhà giáo dục phải kiểm tra tất cả các thành phần của quá trình giảng dạy để giúp giảng viên kiểm tra và phát triển kiến thức và kỹ năng của họ, để họ có thể đạt được phản ứng tổng hợp năng động, là kết quả của nghệ thuật và khoa học trong giảng dạy để mang lại thành tích học tập tốt hơn cho người học. Trong tác phẩm “The Art and Science of 9 Teaching: A Comprehensive Framework for Effective Instruction” này, Robert J.
Marzano còn trình bày một mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy dựa trên việc hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học. Những kinh nghiệm và sự hiểu biết chuyên môn chắc chắn sẽ giúp giảng viên kiểm tra và phát triển kiến thức và kỹ năng của họ, để họ có thể tổng hợp được năng lực, sáng tạo để tạo ra thành tích đặc biệt trong giảng dạy và đào tạo được các học viên xuất sắc [90]. "Những thách thức của quản lý trong thế kỷ thứ XXI", tác giả Feter F. Drucker (2003), là một trong những cuốn sách đột phá về các giả định trong quản lý.
Cuốn sách đề cập một cách thẳng thắn, logic và sâu sắc tới các vấn đề quản lý vượt qua tầm nhìn của hiện tại, đưa ra những đề tài nóng bỏng của ngày mai. Cuốn sách không hẳn đưa ra các giải pháp cho tương lai mà tập trung đưa ra các vấn đề thực tế và đặt ra những câu hỏi nhằm giải quyết vấn đề đó. Sáu chương sách, tác giả đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ vào xã hội tương lai, đồng thời đưa ra được một loạt các khái niệm mới với tầm quan trọng không thể chối cãi. Cuốn sách có những ý tưởng mới, mang tính cách mạng và có tầm nhìn về các vấn đề quản lý trong tương lai, đưa ra một khái niệm rất mới: “nửa cuộc đời còn lại”.
Theo phân tích của ông, lần đầu tiên trong lịch sử loài người các cá nhân có thể sống lâu hơn các tổ chức nơi họ làm việc. Điều này sẽ dẫn đến một thách thức hoàn toàn mới mẻ: Bạn sẽ làm gì trong nửa cuộc đời còn lại của mình? Những mô hình đổi mới, tầm quan trọng của xây dựng chiến lược, người dẫn đầu sự thay đổi, những thách thức của thông tin, năng suất lao động của tri thức và tự quản lý bản thân. Đây là những vấn đề nóng bỏng, thách thức của công tác quản lý trong tương lai [86]. Mark Mason (2005), on the In Ternational Forum on Việt Nam Education “Higher Education Reform and International Integration” - Mark Mason trong Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam với chủ đề: “Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế” [87], đưa ra “Chiến lược và giải pháp dành cho giáo dục đại học chất lượng và tính cạnh tranh toàn cầu”, tham luận gồm hai phần: Một là viện dẫn nghiên cứu về những nhân tố được chứng minh làm tăng hiệu quả học tập nhất là để bảo vệ cho luận điểm của tôi là chất lượng giáo viên và chất lượng giảng dạy là công cụ hữu hiệu nhất đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.
Hai là nghiên cứu về thuyết phức hợp và đổi mới giáo dục để bảo vệ luận điểm của tôi rằng các nguồn lực nên tập trung vào số lượng hạn chế của cơ sở giáo dục đại học chất lượng cao làm động lực cải cách chất lượng được duy trì tốt hơn. 10 Từ đó đưa ra kết luận về những vấn đề như: 1) Việt Nam có thể rút ra kinh nghiệm đổi mới giáo dục đại học từ các nước khác; 2) Việt Nam nên rút ra điều gì từ quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học; 3) Đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam nên tập trung ưu tiên gì; 4) Chính phủ nên đóng vai trò như thế nào trong quá trình đổi mới. Thực chất vấn đề được giải quyết chính là: đòn bẩy thay đổi quan trọng là chất lượng giáo viên và chất lượng giảng dạy trong giáo dục đại học và các nguồn lực nên tập trung vào tuyển chọn và duy trì đội ngũ tốt nhất và đào tạo đội ngũ vì mục tiêu này và nguồn lực chỉ nên tập trung vào số lượng hạn chế các cơ sở giáo dục chất lượng cao để động lực cải cách chất lượng được duy trì tốt hơn [87, tr. UNESCO và ILO hai tổ chức quốc tế khuyến khích và tạo điều kiện cho việc phát triển và ứng dụng các module trong đào tạo.
Tại hội nghị quốc tế về module tại Bangkok (1977) và Paris (1985), các khuyến cáo của UNESCO về sự cẩn thiết triển khai áp dụng module trong đào tạo đã được đặc biệt chú ý. Tại Paris, các chuyên gia cho rằng, sử dụng module "là thích hợp và cần thiết trong mọi đối tượng đào tạo, đặc biệt cho giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và trong việc phổ biến kỹ thuật mới", đồng thời khuyến cáo các nước đang phát triển khi đầu tư tổng thể cho giáo dục còn hạn chế thì nên quan tâm tới việc đào tạo theo module. Cùng với mục tiêu nhằm khuyến khích việc áp dụng module trong giáo dục và đào tạo, cụ thể hơn, trong việc đào tạo giáo viên, các hội nghị khu vực họp tại Malina (5/1975) và tại Bangkok (12/1977) đã đề cập đến "việc phát triển các module phục vụ cho các chương trình cơ bản của đào tạo giáo viên". ILO đã xây dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo module hoàn chỉnh, các quan điểm về đào tạo theo nhóm module về cơ bản không khác với những quan điểm trên tuy nhiên, do chức năng quốc tế, ILO đặt nhiệm vụ "quốc tế hóa" về các module đào tạo và hình thành một ngân hàng gồm 764 đơn nguyên học tập, nhưng cũng chỉ được có 5 lĩnh vực nghề [84].
ILO cho rằng một nghề nào đó đều được thể hiện qua các chuẩn kỹ năng nghề, dù nghề đó được xem xét ở bất kỳ quốc gia nào. Sự khác biệt của các chuẩn này không lớn và chúng được đặc trưng bởi hệ thống mục tiêu đào tạo (Aims and Objectives) và các kỹ năng thực hiện (Performance Skills). Chính các chuẩn này là cơ sở để xây dựng các module, đơn vị trung tâm trong các cấu trúc hệ thống đào tạo theo module của ILO. Như vậy có thể khái quát chung quan điểm quản lý của các học giả quốc tế chính là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến với đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức đạt được mục tiêu đề ra.
Hay nói 11 một cách khác, quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. - Các nghiên cứu về văn hóa Công trình đáng lưu ý trong lĩnh vực văn hóa, phải nói tới tác giả Chris Barker [79], Study Theoretical and Practical Culture (Nghiên cứu Văn hóa lý thuyết và thực hành), một công trình nghiên cứu công phu, chia làm 3 phần: Phần 1: Văn hóa và nghiên cứu văn hóa là những hệ thống khái niệm, những dải trí tuệ, vấn đề trung tâm trong nghiên cứu văn hóa và phương pháp luận, được đúc kết từ thực tiễn và kinh nghiệm của các học giả được tác giả trình bày thấu đáo. Trong đó đáng lưu ý nhất là văn hóa và hệ tư tưởng; văn hóa ý nghĩa tri thức: bước ngoặt ngôn ngữ; sinh học và văn hóa những vấn đề được thuyết giản hóa luận và tính phức tạp được cắt nghĩa bởi tính khoa học và khả năng tiến hóa. Khẳng định vai trò của con người, chủ thể văn hóa.
Phần 2: Bối cảnh thay đổi của nghiên cứu văn hóa chủ yếu khám phá về thế giới mới trong lính vực kinh tế, công nghệ, giai cấp xã hội, toàn cầu hóa; những chủ thể của thời kỳ hiện đại, tri thức hiện đại và hậu hiện đại, nền văn hóa hậu hiện đại. Phần 3: Bàn luận, viện dẫn và lý giải các vấn đề về tính chủ thể và bản sắc; sắc tộc chủng tộc và dân tộc; tình dục, tính cụ thể và sự thể hiện. Trong đó tình dục, giới tính và bản sắc; những cơ thể được đinh giới, đàn ông và nam tính; sự thể hiện và văn hóa truyền thống được luận giải kỹ lưỡng.