CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CÁC CHƯƠNG TRÌNH CHẤT LƯỢNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu liên quan đến chương trình chất lượng cao ở trường đại học 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trường đại học ở các nước trên thế giới rất chú trọng đến việc nâng cao chất lượng đào tạo bắt đầu từ việc phát triển chương trình đào tạo các ngành của trường đại học, bởi vì chương trình đào tạo là bản mô tả nội dung và kế hoạch đào tạo cụ thể của một ngành với những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần phải hình thành cho người học trong một khóa đào tạo, từ đó quá trình đào tạo thực hiện theo chương trình đặt ra hiệu quả.
Với các quan điểm về cách tiếp cận xây dựng chương trình, xuất phát từ nhu cầu thực tế của sự phát triển kinh tế - xã hội theo các giai đoạn khác nhau, các chuyên gia giáo dục, các nhà xây dựng chương trình đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chương trình đào tạo. R (2013) trong cuốn sách “Basic Principles of Curriculum and Instruction – Các nguyên tắc cơ bản của chương trình giảng dạy và hướng dẫn” đã đưa ra khái niệm về chương trình giáo dục, các thành phần cấu thành chương trình giáo dục; phát triển chương trình giáo dục và mô hình phát triển chương trình giáo dục. Tác giả đã đưa ra trình tự phát triển chương trình giáo dục, ông cho rằng chương trình phải bao gồm bốn yếu tố cơ bản sau: mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; phương pháp hay quy trình đào tạo; và đánh giá kết quả đào tạo [68]. Theo định nghĩa của tác giả Taba, H.G (1973), trong cuốn sách “Dictionary of Education - Từ điển giáo dục”, chương trình giáo dục là “một nhóm có hệ thống và trình tự các môn học cần phải tích lũy và hoàn thành để được tốt nghiệp hoặc được chứng nhận hoàn thành một ngành học, lĩnh vực học”.
Ông cho rằng, chương trình là các tri thức khoa học được hướng dẫn và kế hoạch hóa dành cho người học học tập, xác định trước và hình thành các kết quả học tập thông qua việc thiết lập kiến thức và kinh nghiệm một cách có hệ thống dưới sự hướng dẫn của trường đại học, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển liên tục về năng lực xã hội - cá nhân của người học [70]. (1993), trong cuốn sách “Planning for effective training: a guide to curriculum development”, đã giới thiệu về CTCLC và phát triển CTCLC, ông cho rằng chương trình giáo dục là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo, hoạt động đó có thể là một khoá học trong thời gian vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm. Từ bản chương trình ta biết nội dung tri thức cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể đạt được ở người học sau khi kết thúc khóa đào tạo, nó cũng cho biết quy trình thực hiện nội dung đào tạo, cũng như cho ta biết các phương pháp và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, và toàn bộ quy trình theo các bước được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ. Nhóm tác giả khác với tư cách là những người quản lý và chỉ đạo xây dựng chương trình cho rằng: Chương trình giáo dục là một kế hoạch đào tạo phản ánh các mục tiêu giáo dục, đào tạo của trường đại học, cùng với những nội dung và phương pháp dạy và học cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra [73].
Hơn nữa, chương trình giáo dục cũng được xem xét từ góc độ, quy mô rộng hơn, nhấn mạnh đến sự phát triển kỹ năng và các giá trị khác mà người học đạt được trong trường học. Thông qua những hoạt động ấy, dưới sự tổ chức của trường đại học, người học thu nhận được tri thức và hiểu biết để phát triển các kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức. CTCLC là chương trình phải được xây dựng hiện đại theo hệ thống tín chỉ trong đào tạo tại các trường đại học. Trong đào tạo theo học chế tín chỉ với triết lý là “lấy người học làm trung tâm” trong quá trình triển khai đào tạo, tạo điều kiện tối đa để người học quản lý được việc tự lập kế hoạch học, tự học và tự nghiên cứu, việc tổ chức xây dựng và quản lý chương trình môn học (course syllabus) cần được quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo và quản lý trong trường đại học.
Trong tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, các trường đại học của nhiều nước trên thế giới hằng năm in cuốn sổ tay về chương trình với tiêu đề Catalog, Bulletin hoặc Calendar và cung cấp cho nhà quản lý, giảng viên và sinh viên. Cuốn sổ tay giới thiệu về sứ mệnh, cơ cấu tổ chức, các đơn vị, các ngành đào tạo hiện hành của trường, cung cấp những thông tin về yêu cầu, quy định về chương trình, tổng số tín chỉ mà sinh viên cần phải tích luỹ để có thể tốt nghiệp ngành đào tạo. Với những thông tin trong cuốn sổ tay cùng với cố vấn học tập, sinh viên hoàn toàn có thể dễ dàng, chủ động trong việc xây dựng kế hoạch học tập của bản thân. Mặt khác, cuốn sổ tay cũng giới thiệu cho sinh viên cụ thể về chương trình từng môn học: mã môn học số tín chỉ, giờ lý thuyết, thực hành của môn học, nội dung tóm tắt của môn học, thời gian học môn học và các thông tin khác của môn học.
Các luan an 14 thông tin về môn học, thực thi giảng dạy môn học được thể hiện trong chương trình của môn học đó (course syllabus). Theo tài liệu hướng dẫn viết chương trình môn học (Writing a course syllabus) và chương trình môn học hiện hành của một số trường đại học Mỹ, một số nội dung sau đây cần được đưa vào chương trình môn học: 1) Thông tin về môn học; 2) Thông tin về giảng viên môn học, trợ giảng (nếu có); 3) Học liệu gồm giáo trình bắt buộc, tài liệu tham khảo; 4) Tóm tắt (mô tả) nội dung môn học; 5) Mục tiêu môn học; 6) Tổ chức giảng dạy môn học, hình thức giảng dạy, lịch học v.; 7) Đánh giá kết quả học tập môn học, thang điểm đánh giá, tiêu chí đánh giá; và 8) Chính sách môn học. Dưới đây là một số minh hoạ về chương trình môn học ở một số trường đại học nước ngoài: Ví dụ, cấu trúc chương trình của môn học “Culture and Mental Health - Văn hoá và sức khoẻ tâm thần” của Khoa Tâm lý học, Đại học Miami bang Ohio đề cập đến 8 nội dung cơ bản sau: thông tin về mã môn học, loại môn học; thông tin về giảng viên; tóm tắt nội dung môn học nêu những vấn đề nội dung chính; mục đích của môn học, mục tiêu cụ thể của môn học; học liệu; hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả môn học; một số quy định của môn học (chính sách môn học); kế hoạch dạy học: phần này nêu rõ nội dung học, thảo luận v., chủ đề cho thảo luận, xê-mi-na cho từng tuần học (trong suốt 15 - 16 tuần), yêu cầu chuẩn bị bài của sinh viên, tài liệu tham khảo sinh viên cần phải đọc để có thể tiếp thu được nội dung của từng tuần học, chỉ rõ chương, trang sách mà sinh viên cần phải đọc để có thể nắm được nội dung học tập và tham gia thảo luận, xê-mi-na thuộc phạm vi môn học. Tham khảo chương trình môn học của một số trường đại học khác của Mỹ như Đại học bang Indiana (The Indiana State University), Đại học New York, Đại học Cộng đồng Lansing bang Michigan v., tác giả luận án nhận thấy chương trình môn học nói chung bao gồm các nội dung sau: mã môn học, tên môn học, thời lượng (tín chỉ); thông tin về khoa, bộ môn đảm nhiệm luan an 15 giảng dạy môn học; thời lượng (tín chỉ) môn học và chỉ rõ số giờ lý thuyết, giờ thực hành, giờ làm việc tại phòng thí nghiệm và các hoạt động khác; điều kiện của môn học; mô tả tóm tắt nội dung môn học; khả năng chuyển đổi môn học; trách nhiệm của sinh viên; học liệu cần cho môn học; tiêu chí đánh giá kết quả học tập môn học của sinh viên; điểm đánh giá kết quả môn học; chuẩn đầu ra (Student Learning outcomes) hoặc mục tiêu môn học; nội dung chi tiết của môn học (course outline); các thông tin khác về môn học.
Từ phân tích của các tác giả trên cho thấy việc đánh giá các chương trình môn học nói riêng và chương trình đào tạo nói chung ở các trường đại học được thực hiện hằng năm nhằm rà soát, bổ sung và cập nhật để hoàn thiện các chương trình đang hiện hành, những môn học không còn phù hợp với mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra chương trình sẽ thay thế bằng môn học khác. Các nghiên cứu trong nước Ở trong nước, nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đã đề cập đến chương trình và phát triển chương trình theo các cách tiếp cận khác nhau. Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học”, tác giả Nguyễn Hữu Châu (2004) nêu những quan niệm về chương trình và phát triển chương trình; một số loại chương trình; giới thiệu về một số kiểu tổ chức chương trình cơ bản; cách xác định mục tiêu, xác định nội dung trong xây dựng chương trình; quy trình xây dựng chương trình và đánh giá chương trình [14]. Theo tác giả Nguyễn Đức Chính (2008): “Khi đề cập đến thiết kế và đánh giá chương trình giáo dục đã nêu được vai trò của chương trình giáo dục, phát triển chương trình giáo dục, chương trình một môn học đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục trong bối cảnh hiện tại của quốc tế và trong nước” [19].
Ông cũng đề cập tới việc phân tích các bước của một chu trình phát triển chương trình giáo dục từ phân tích nhu cầu, xác định mục tiêu, thiết kế, thực thi và đánh giá cải tiến chương trình, cũng như hiểu và vận dụng các luan an 16 bước và nội dung đánh giá cải tiến chương trình đào tạo nói chung và chương trình môn học nói riêng.