CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC CHO CÁC DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề - Về ĐT gắn với nhu cầu DoN, nhu cầu TTLĐ: ĐT gắn với nhu cầu DoN, nhu cầu TTLĐ, liên kết ĐT giữa nhà trường và DoN là một xu thế đã được nhiều nhà khoa học quan tâm. Ở ngoài nước đã có các công trình như “Matching demand and supply in enterprise-based training - Which role does training consultation play” của Dr. Bernd Kapplinger [78], công trình đã đề cập đến việc tư vấn ĐT là một công cụ hết sức quan trọng, sự hài lòng của các DoN được đánh giá thông qua tư vấn ĐT.
Công trình “Enterprise Based Training (EBT) and Enterprise Growth, Productivity and Innovativeness among manufacturing firms in Nairobi” củaGeorge Mbugua [80] đã nghiên cứu tập trung trên 168 DoN ở khu vực Nairobi và nêu bật một số kết quả về mối quan hệ giữa ĐT dựa vào DoN, góp phần cải thiện hiệu suất lao động và tính sáng tạo ở Nairobi. Ở trong nước, mặc dùchỉ từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới để chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường thì chúng ta mới chấp nhận thị trường. Tuy nhiên, từ đó đến nay ở nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐT đáp ứng nhu cầu DoN, nhu cầu TTLĐ. Một số công trình có thể kể đến là: Công trình “ĐT đáp ứng nhu cầu xã hội -quan niệm và giải pháp thực hiện” của Nguyễn Minh Đường và Nguyễn Thị Hằng [18] đề cập đến quan niệm về nhu cầu xã hội và đề xuất một số giải pháp để ĐT đáp ứng nhu cầu xã hội.
Công trình “ĐT và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Phan Văn Kha [33] đã đưa ra các hoạt động liên kết ĐT giữa nhà trường với DoN đem lại lợi ích không chỉ cho nhà trường, DoN, người học mà còn cho cả xã hội. Công trình “Một số giải pháp về ĐTN đáp ứng nhu cầu DoN” của Mạc Văn Tiến: [59] lại đưa ra một số giải pháp là phải coi dạy nghề tại DoN như là một hình thức ĐT cho người lao động, đổi hướng CTĐT theo hướng mềm dẻo, đổi mới phương pháp ĐT, nâng 1 cao trình độ đội ngũ GV trên cơ sở tích hợp kiến thức. Công trình “ĐTN đáp ứng nhu cầu DoN trong bối cảnh hiện nay” của Phan Minh Hiền [26] đề cập đến thực trạng ĐTN đáp ứng nhu cầu của DoN, và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ĐT, trong đó chú trọng việc xây dựng cơ chế, chính sách và mô hình liên kết giữa ĐT và sử dụng nhân lực. Công trình “Mô hình ĐT gắn với nhu cầu của DoN ở Việt Nam hiện nay” của Phùng Xuân Nhạ [44] đã nêu một vấn đề của giáo dục nước ta hiện nay là ĐT thiếu gắn kết với nhu cầu DoN.
Để thúc đẩy mối liên kết này, tác giả đã làm rõ hơn một số nội dung trong liên kết nhà trường - DoN như lợi ích, cơ chế liên kết và điều kiện thành công. Công trình “Liên kết ĐT giữa nhà trường đại học với DoN ở Việt Nam” của Trịnh Thị Hoa Mai [40] đã nêu lên việc liên kết ĐT giữa nhà trường và DoN là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Các DoN sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các CSĐT nắm được nhu cầu của thị trường lao động. Công trình “Mô hình gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp” của Nguyễn Minh Phong [47] đã nêu sự cần thiết trong việc không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để duy trì và phát triển sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động của bản thân mỗi DoN, nhà trường.
Công trình “Gắn ĐT với sử dụng, nhà trường với doanh nghiệp” của Trần Anh Tài [56], nêu thực trạng mối liên hệ giữa nhà trường và xã hội, giữa nhà ĐT và nhà sử dụng trong ĐT đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay, nhấn mạnh nguyên nhân của thực trạng chưa gắn kết giữa ĐT với nhà sử dụng lao động, giữa nhà trường với xã hội.Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ “Các giải pháp liên kết giữa nhà trường với cơ sở sản xuấtnhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả ĐT”củaNguyễn Xuân Mai[41] đã đưa ra một số vấn đề lý luận về liên kết ĐT giữa nhà trường với DoN, thực trạng về những khó khăn đồng thời cũng đưa ra một số biện pháp, trong đó có vấn đề chính sách và cơ chế hợp tác. - Về ĐTnhân lực cho ngành du lịchgắn với DoN Ở ngoài nước trong lĩnh vực này có các công trình như: Managing Hotels Effectively của Eddystone C. Nebel [79], trong công trình này tác giả dành toàn bộ chương 7 nói về nhân sự khách sạn, trong đó các vấn đề được giới thiệu là: phác họa công việc, tuyển chọn nhân viên, huấn luyện và phát triển, đánh giá quá trình 1 công tác. Công trình Hospitality Skills - A Practical Approach của Lux.
Development, toàn bộ cuốn sách đề cập đến tổng quan du lịch, và các hành vi ứng xử trong nghề du lịch. Các tiêu chuẩn được thiết kế kết hợp hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế về các hành vi ứng xử trong nghề, được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của ĐT nhân lực ngành du lịch. Công trình “Kinh tế du lịch và du lịch học”, Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình [42],các tác giả đưa ra quan điểm là các ngành, lĩnh vực cần có nhân tài để phát triển, do đó đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng nhân tài du lịch. Các tác giả cũng xác định 2 con đường chính để bồi dưỡng nhân tài du lịch là giáo dục chuyên nghiệp và huấn luyện.
Công trình Front Office Operations - A Practical Approach của Lux – Development “ Thực hành nghiệp vụ Lễ tân - Cách tiếp cận thực tế” [48] do Trần Phương dịch, đã đề cập đến phần thực hành tại bộ phận lễ tân với quy trình phục vụ khép kín, chúng được thiết kế và kết hợp hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế về nghề lễ tân, được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu cụ thể của ngành du lịch Việt Nam. Cũng đã có một số luận án tiến sĩ về QLĐTnhân lực ngành du lịch như: Luận án “Human resources development and planning for tourism: case studies from PR China and Malaysia” của Abby Y. Luận án đề cập đến phát triển du lịch của các quốc gia được coi như là chiến lược phát triển kinh tế và xã hội. Tác giả cũngcho rằng “ĐT theo nhu cầu xã hội” là bước đột phá để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Ở trong nước, trong lĩnh vực này đã có một số công trình như: Công trình “ĐT nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội - một số vấn đề đặt ra cần giải quyết” của Nguyễn Văn Đính[11] đề cập đến thực trạng và những thách thức về ĐT nguồn nhân lực du lịch và đưa ra một số giải pháp như tăng cường hợp tác liên kết ĐT với nước ngoài để tiếp cận công nghệ và những phương pháp giảng dạy tiên tiến, …Công trình “ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch ở Việt Nam hiện nay” của Vũ Minh Huệ [29] đề cập đến vấn đề về thực trạng nguồn nhân lực ngành du lịch Việt Nam, đặc biệt là tỷ lệ lao động sử dụng được ngoại ngữ mới chiếm khoảng 45% trong tổng số. Tác giả cũng đề cập đến một số dự án về ĐT nhân lực du lịch như dự án VIE/002 “ Phát triển du lịch và khách sạn ở Việt Nam ” 1 do Luých – xăm - bua tài trợ và dự án “ Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam” do cộng đồng Châu Âu (EU) viện trợ không hoàn lại. Dự án đã xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho 13 nghề được công nhận trong du lịch và lữ hành. -Về QLĐT trong cơ chế thị trường Ở ngoài nước, trong lĩnh vực này đã có nhiều công trình nghiên cứu như: “Managing Training Stragies for Developing Countries”của John E.
Kerrigan and Jeff S. Luke [84], “Managing TVET to Meet Labour Market Demand” của R.Noonan [86], những công trình này đều đề cập đến QLĐTtrong cơ chế thị trường theo quy luật cung cầu và quản lý hệ thống ĐT theo các phương pháp tiếp cận hiện đại gắn nhà trường với DoN, QLĐTtheo “hướng cầu” nhưĐT dựa trên nhu cầu của việc làm và nhu cầu của người học trong cộng đồng. Wolf –Dietrict Greinert (1994) với công trình “The German System of Vocational”[92] đã giới thiệu các phương pháp nghề truyền thống của Đức và các mô hình QLĐT nghề cần phải được bổ sung và ĐT theo hệ thống kép được tích hợp lý thuyết và thực hành, lấy người học làm trung tâm. Thomas Dessinger và Slilke Hellwig (Đức) trong công trình: “Structures and functions of competency - based education and training (CBET): a comparative perspective” [89] đã đưa ra quan điểm về cấu trúc và chức năng của CTĐT dựa trên NLTH để xây dựng được cần phải đưa ra kế hoạch xây dựng chương trình, phát triển chương trình và kiểm định chương trình trước khi thực thi.
Công trình“Managing vocational training systems” của Vladimir Gasskov [91] đã đưa ra một hệ thống khoa học và nghệ thuật về quản lý và tổ chức ĐTN trong cơ sở công lập, đồng thời đưa ra biện pháp phát triển năng lực quản lý của các quản trị viên cao cấp tiến tới mức độ chuyên nghiệp cao. Cuốn sách “Hotel management and operations” của Denny G.Rutherford và Michael J. Còn với cách nhìn của SV cuốn sách giúp người học tiếp cận một cách thông minh với bất kì tình huống thực nào mà họ có thể gặp trong “thế giới thực”. Ở trong nước, trong lĩnh vực này đã có một số công trình như: Công trình “Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” của Trần Khánh 1 Đức [13].
Cuốn chuyên khảo này là tập hợp bài viết của tác giả về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phương pháp luận quản lý và phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp …. trong đó có bàn luận tới công tác QLĐT nghề và phát triển nguồn nhân lực. Tác giả Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha xuất bản cuốn “ĐT nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” [19] giới thiệu cơ sở lý luận và thực trạng về ĐT nhân lực, đồng thời đề xuất các giải pháp về ĐT nhân lực, trong đó có QLĐT nghề đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thì trường, toàn cầu hóa.