phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục bài luận văn gồm 3 chương: + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nhân lực tại doanh nghiệp. + Chƣơng 2: Phân tích và đánh giá thực trạng đào tạo nhân lực tại Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội. + Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện đào tạo nhân lực tại Tổng Công ty điện lực thành phố Hà Nội 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Nhân lực Nhân lực là một trong những vấn đề chiến lược của một tổ chức, bên cạnh các nguồn lực khác như nguồn lực tài chính, nguồn lực thông tin, nguồn lực công nghệ. Khi xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho một tổ chức, các nhà lãnh đạo sẽ phải hoạch định chiến lược về nhân lực và chiến lược xây dựng, nuôi dưỡng, phát triển đội ngũ nhân tài cho tổ chức, đáp ứng các mục tiêu phát triển của tổ chức.
Trong giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2012) do PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên đã viết: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một lúc nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động”. Trong giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) do tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm chủ biên có đề cập: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người.
Thể lực là sức bền, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe riêng từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế, lối sống, sinh hoạt, … Thể lực con người cũng tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính…. Như vậy, khác với các nguồn lực khác, tiềm lực và khả năng của con người là vô hạn. Nếu biết cách tận dụng nó, con người hoàn toàn có thể làm được những việc phi thường. 8 Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực có mối quan hệ hết sức mật thiết.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo tổ chức Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.
Từ những phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: Thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế -xã hội nhất định. Tuy nhiên, khái niệm nguồn nhân lực thường được xem xét trên tiếp cận vĩ mô là chủ yếu nhưng với các tổ chức kinh tế - xã hội; một khái niệm được quan tâm nhiều hơn vì nó thiết thực với một tổ chức là tiếp cận dưới góc độ vi mô, đó là khái niệm về nhân lực. Từ những trích dẫn kể trên, có thể tổng quát khái niệm nhân lực được hiểu là: Nhân lực có thể hiểu là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức bao gồm tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức.2 Quản trị nhân lực tại doanh nghiệp Theo PGS.TS Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương (2010) trong giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Thương Mại đã viết: “Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp”. 9 Từ khái niệm này cho thấy: Quản trị nhân lực là một lĩnh vực cụ thể của ngành quản trị, vì vậy nó cần phải thực hiện thông qua các chức năng quản trị như hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát một cách đồng bộ và phối hợp chặt chẽ.
Quản trị nhân lực phải được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác như: Quản trị chiến lược, quản trị bán hàng, quản trị mua hàng…“Với phương diện là hoạt động hỗ trợ, quản trị nhân lực phải phục vụ cho các hoạt động tác nghiệp khác, bởi các lĩnh vực quản trị này sẽ không thực hiện được nếu thiếu quản trị nhân lực. Trách nhiệm quản trị nhân lực liên quan đến mọi nhà quản trị trong doanh nghiệp. Các nhà quản trị trong phạm vị bộ phận của mình đểu phải triển khai công tác quản trị nhân lực.” Quản trị nhân lực đòi hỏi tính nghệ thuật cao. Con người – đối tượng của quản trị nhân lực là rất đa dạng và có thể biến đổi theo hoàn cảnh, vì vậy nhà quản trị cần phải sáng tạo và quyền biến trong hành động thực tiễn.
Trong giáo trình Quản trị nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2010), Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm đề cập: “Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của tổ chức để xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và gìn giữ một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của tổ chức cả về số lượng và chất lượng, quản trị nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức, giúp cho tổ chức tồn tại, phát triển trong cạnh tranh”. Theo giáo trình Quản trị nhân lực căn bản của Trường Đại học Thương Mại (2016), Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn đã viết: “Quản trị nhân lực được hiểu là tổng hợp các hoạt động quản trị liên quan đến việc hoạch định nhân lực, tổ chức quản trị nhân lực, tạo động lực cho người lao động và kiểm soát hoạt động quản trị nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu và chiến lược đã xác định”. “Như vậy, dù hiểu theo nghĩa nào thì bản chất của quản trị nhân lực vẫn không đổi, quản trị nhân lực là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một 10 doanh nghiệp, là sự đối xử của doanh nghiệp với người lao động. Hay nói cách khác, quản trị nhân lực chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào tổ chức giúp cho họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh.
Quản trị nhân lực trong tổ chức chủ yếu tập trung vào bốn nội dung cơ bản: Tuyển dụng nhân lực; Bố trí, sử dụng nhân lực; Đào tạo, phát triển nhân lực; Đãi ngộ nhân lực. Trong đó, đào tạo nhân lực là một khâu quan trọng không thể thiếu của quản trị nhân lực. Những nội dung cơ bản của quản trị nhân lực MÔI TRƢỜNG QTNL Tuyển dụng NL Bố trí & sử dụng Mục tiêu của DN Đãi ngộ NL Đào tạo, phát triển NL (Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân lực-2010) Trong bài luận văn này, học viên sử dụng khái niệm quản trị nhân lực của Vũ Thùy Dương, Hoàng Văn Hải đó là: “Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp”.3 Đào tạo nhân lực tại doanh nghiệp "Mỗi tổ chức muốn tồn tại và phát triển đều cần đến các nguồn lực khác nhau. Các nguồn lực như nguồn lực tài chính, khoa học công nghệ, nguồn lực con người… đều cần được huy động và sử dụng có hiệu quả nếu như muốn thúc đẩy tổ chức đó phát triển.
Trong các nguồn lực đó, nguồn lực con người hay nhân lực đóng 11 vai trò quan trọng hàng đầu, đây là nguồn lực đóng vai trò quyết định trong việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực còn lại. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thì nhân lực đóng vai trò không thể thiếu trong tất cả các hoạt động của xã hội. Với các tổ chức, thế mạnh về nhân lực chính là thế mạnh rất lớn trong cạnh tranh, vì con người sẽ quyết định tới việc tổ chức đó có sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính hay thiết bị công nghệ."Tuy nhiên, nhân lực để đáp ứng các nhu cầu phát triển của tổ chức không thể tự nhiên xuất hiện mà phải qua quá trình dài học tập làm việc mới có thể đáp ứng các nhu cầu của tổ chức. Quá trình học tập của nhân lực phải trải qua nhiều quá trình, một trong những quá trình đào tạo nhân lực chính là quá trình đào tạo trong tổ chức.
Tổ chức cần phải đào tạo nhân lực vì rất nhiều lý do: Nhân lực mới cần có sự đào tạo để có thể quen với công việc trong một môi trường làm việc hoàn toàn mới, qua đó họ mới có thể hòa nhập nhanh chóng và có hiệu quả trong công việc. Còn với những nhân lực đang làm việc trong tổ chức thì việc học tập của họ nhằm nâng cao khả năng cần thiết để hoàn thành ngày càng tốt công việc mà họ đang đảm nhiệm hoặc công việc đòi hỏi kỹ năng cao hơn trong tương lai. Có nhiều cách hiểu về đào tạo nhân lực và được trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau như sau: Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) do tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm chủ biên đã viết: “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình”. Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương Mại (2010) do PGS.TS Hoàng Văn Hải và Th.