Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ RÈN LUYỆN CỦA HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Một số khái niệm liên quan 1. Đánh giá Theo định nghĩa tổng quát, đánh giá là sự hình thành nhận định, phán đoán về đối tượng thông qua sự phân tích thông tin thu được trên cơ sở đối chiếu với các mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất các quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng hiệu quả công việc. Theo từ điển Tiếng Việt, đánh giá chính là việc ước tính giá trị, nhận định giá trị của một sự vật, sự việc, con người cụ thể trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định.
Theo tác giả nguyễn Đức Chính, thuật ngữ đánh giá được định nghĩa: Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào. Hoặc đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách hệ thống về năng lực và phẩm chất của người học và xử dụng các thông tin đó đưa ra quyết định về người dạy và người học trong tương lai. Theo Đặng Bá Lãm (2003) đánh giá là một quá trình có hệ thống bao gồm việc thu thập, phân tích, giải tích thông tin nhằm xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu dạy học. Từ việc phân tích các khái niệm đánh giá nêu trên tác giả đưa ra khái niệm đánh giá làm khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài luận văn như sau: Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, lý giải thông tin một cách có hệ thống.
Từ đó đưa ra nhận xét về đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những chuẩn mực nhất định. Trong lĩnh vực giáo dục, đánh giá là một khâu không thể tách rời của quá trình giáo dục và đào tạo. Đánh giá có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các khâu của quá trình giáo dục và là cơ sở cho việc điều chỉnh và đổi mới giáo dục. Quan điểm của một số tác giả Trong giáo dục, đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách có hệ thống nhằm mục đích giúp người học hoạch định chính sách lựa chọn một phương pháp khả thi để tiến hành công việc giáo dục của mình.
9 uan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail. Rèn luyện - Khái niệm rèn luyện: Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm rèn luyện được hiểu như sau: Rèn luyện là luyện tập nhiều trong thực tế để đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo [19, tr798]. - Khái niệm kết quả rèn luyện của học viên Ở Việt Nam, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những quy định cụ thể, những yêu cầu đối với hoạt động học tập và hoạt động rèn luyện của học viên. Hoạt động rèn luyện được thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu như: Ý thức tham gia học tập; Ý thức chấp hành nội quy, quy chế, quy định trong nhà trường; Ý thức tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa, văn nghệ, thể thao, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; Ý thức công dân trong quan hệ cộng đồng; Ý thức và kết quả tham gia công tác cán bộ lớp, các đoàn thể, tổ chức khác trong cơ sở giáo dục hoặc người học đạt được thành tích đặc biệt trong học tập, rèn luyện… Chính vì vậy, có thể xác định khái niệm kết quả rèn luyện của học viên như sau: Kết quả rèn luyện của học viên là mức độ đáp ứng yêu cầu của học viên về rèn luyện, thể hiện ở nhận thức, thái độ và hành động tham gia học tập, ý thức chấp hành nội qui, ý thức tham gia hoạt động xã hội, ý thức công dân, ý thức tham gia hoạt động của lớp và nhà trường và thành tích trong học tập, rèn luyện.
Đánh giá kết quả rèn luyện của học viên Từ việc phân tích một số khái niệm công cụ như: đánh giá, rèn luyện, tác giả xây dựng khái niệm hoạt động đánh giá kết quả rèn luyện của học viên như sau: “Đánh giá kết quả rèn luyện của học viên là quá trình thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin đầy đủ, có hệ thống về rèn luyện của học viên, nhằm xác định chính xác mức độ rèn luyện mà học viên đạt được so với mục tiêu rèn luyện của học viên tại nhà trường đã được xác định”. Quản lý Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định. Trong Từ điển tiếng Việt có nêu: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
Khái niệm này tương đồng với các khái niệm chỉ đạo, điều hành, điều khiển. Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước. Khái niệm chung nhất về quản lý nhà nước được hiểu cô đọng ở việc “tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội theo pháp luật”. 10 uan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.co Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến một tập thể nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và đối tượng quản lý.
Sự cần thiết của quản lý trong một tập thể lao động được K.Marx viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ sở sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”.Marx đã lột tả được bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển loài người. Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [14, tr17].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức trạng thái ổn định, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào thế phát triển”. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”. Theo theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mĩ Lộc định nghĩa kinh điển về quản lý là: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý). Trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”; “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng): kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.
Như vậy, theo kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, chúng tôi cho rằng: Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. Các chức năng của quản lý Quản lý có 4 chức năng cơ bản có liên quan mật thiết với nhau bao gồm: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. 11 uan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.co - Lập kế hoạch: Là xác định những mục tiêu, chỉ tiêu của quản lý; từ đó xây dựng các biện pháp, giải pháp để đạt đến mục tiêu. Có thể hiểu lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó.
Kế hoạch là nền tảng của quản lý. - Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bố công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. - Chỉ đạo: Là quá trình tác động đến con người làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức. - Kiểm tra: Là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm xem xét, đánh giá và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức.
Trong quá trình tổ chức kiểm tra có thể điều chỉnh hoạt động, tổ chức. để đạt được mục tiêu, yêu cầu đã đặt ra. Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các khâu trong quá trình quản lý: Lập kế hoạch Kiểm tra Quản lý Tổ chức Chỉ đạo 1. Quản lý hoạt động đánh giá kết quả rèn luyện của học viên Căn cứ vào các khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài luận án như: quản lý; đánh giá, hoạt động đánh giá kết quả rèn luyện cho học viên như đã trình bày ở trên.
Luận văn trình bày khái niệm công cụ quản lý hoạt động đánh giá kết quả rèn luyện cho học viên như sau: Quản lý hoạt động đánh giá kết quả rèn luyện của học viên là những tác động có mục đích, định hướng của nhà quản lý tới toàn bộ quá trình hoạt động đánh giá kết quả rèn luyện của học viên tại trường nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Hoạt động hoạt động đánh giá kết quả rèn luyện của học viên các trường Công an nhân dân Hệ thống các trường CAND hiện nay có 04 Học viện, 04 trường Đại học, 03 trường Cao đẳng và 01 trường Văn hóa.