Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm hoạt động đăng ký doanh nghiệp, quản lý nhà nước về hoạt động đăng ký doanh nghiệp 1.Khái niệm hoạt động đăng ký doanh nghiệp Để thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường, chủ thể phải tiến hành hoạt động đăng ký doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. đăng ký doanh nghiệp là thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp, theo đó có thể nhìn nhận dưới các góc độ sau: Về phương diện kinh tế - xã hội: Đăng ký doanh nghiệp là thủ tục đầu tiên của doanh nghiệp phải thực hiện để tham gia vào thị trường, trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp, việc thành lập doanh nghiệp và các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp được thông tin rộng rãi, công khai trên thị trường, bên ngoài xã hội nhằm thu hút sự chú ý của cộng đồng doanh nghiệp (các đối tác tương lai) và cộng đồng xã hội (các bên có liên quan). Về phương diện pháp lý: Đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục pháp lý mang tính hành chính tư pháp để xác nhận địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh trên thị trường.
Theo đó nhà đầu tư phải khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về dự kiến hoạt động của mình và được Nhà nước thừa nhận bằng việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Nói cách khác đây là thủ tục khai sinh cho doanh nghiệp và đưa doanh nghiệp đến với thương trường một cách hợp pháp. Tùy theo luật pháp các quốc gia mà đăng ký doanh nghiệp được giao cho cơ quan hành chính hay cơ quan tư pháp thực hiện. Ở Việt Nam, đăng ký doanh nghiệp được giao cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn là Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Như vậy, đăng ký doanh nghiệp được hiểu là hoạt động pháp lý bao gồm hành vi của cơ quan 6 nhà nước có thẩm quyền đăng ký doanh nghiệp và của chủ thể kinh doanh. Theo đó, chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh phải khai báo theo đúng quy định của pháp luật với những nội dung cụ thể, còn cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành thực hiện thủ tục ghi tên vào sổ đăng ký doanh nghiệp đồng thời cấp cho chủ thể đăng ký doanh nghiệp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là bằng chứng pháp lý quan trọng chứng minh chủ thể kinh doanh được tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo hộ.Vì vậy, tuy trong giai đoạn tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp chưa thực sự có, song chi phí trong quá trình đăng ký doanh nghiệp thành lập doanh nghiệp vẫn được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp và được khấu trừ trong khi tính thuế. Về phương diện quản lý nhà nước: Một trong những thủ tục hành chính bắt buộc mà doanh nghiệp và thương nhân phải hoàn tất trước yêu cầu của nhà nước, nhằm quản lý các công việc kinh doanh.
Bất cứ hình thức kinh doanh nào chỉ được xem là hợp pháp trong nước nếu có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Nói cách khác, đăng ký doanh nghiệp được coi là một trong những biện pháp quản lý nhà nước về kinh tế. Đăng ký doanh nghiệp là hoạt động quản lý đầu tiên của nhà nước đối với doanh nghiệp, nó sẽ tạo điều kiện để Nhà nước có thể thực hiện các hoạt động quản lý tiếp theo của mình khi doanh nghiệp chính thức đi vào sản xuất, kinh doanh. Về phương diện chính trị pháp lý: Đăng ký doanh nghiệp được hiểu là quyền tự do kinh doanh, một bộ phận của quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Tuy nhiên, quyền này phải được hiểu là tự do trong khuôn khổ, dân chủ tập trung và bình đẳng trước pháp luật. Quyền đăng ký doanh nghiệp cũng đồng thời là nghĩa vụ phải thực hiện. Quyền tự do kinh doanh của công dân có nội dung bao gồm cả quyền tự do lựa chọn ngành nghề, hình thức kinh doanh và tự do đăng ký loại hình doanh nghiệp. Bất cứ tổ chức nào có đủ điều kiện để 7 kinh doanh đều có thể đăng ký với nhà nước để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà không ai có quyền ngăn cản trái phép.
Theo góc nhìn của pháp luật doanh nghiệp, đăng ký doanh nghiệp được hiểu là việc ghi nhận về mặt pháp lý cho sự ra đời và cập nhập những thay đổi trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động đăng ký doanh nghiệp 1. Khái niệm về quản lý Thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận1. Theo nghĩa chung, quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể vào các đối tượng cần quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra.
Theo điều khiển học: quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước. Các Mác đã viết: “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” và để nhấn mạnh nội dung này, ông viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” 1 Theo “Đại Từ điển tiếng Việt” thì quản lý được hiểu: “1. Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan”, “2.
Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì”. (15) Còn theo “Từ điển bách khoa Việt Nam 3” thì quản lý được hiểu là “Chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” (12) 8 Quan điểm trên của Mác có thể áp dụng cho mọi hoạt động chung của con người, ở đâu có sự hợp tác thì ở đó cần có quản lý, quản lý tồn tại trong mọi quan hệ xã hội, trong bất cứ lĩnh vực nào và ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, vì hoạt động chung của nhiều người đòi hỏi phải được liên kết lại dưới các hình thức. Một trong những hình thức liên kết đó là tổ chức, tổ chức là yếu tố quyết định đem lại hiệu quả cho quản lý, không có tổ chức thì không có quản lý. Mặt khác, quản lý để duy trì tính tổ chức, mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội, nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
Lênin đã viết: “Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa”. Để điều khiển, phối hợp hoạt động của những con người thì cần có những phương tiện buộc con người phải hành động theo những nguyên tắc nhất định, phải phục tùng những mệnh lệnh nhất định. Cơ sở của sự phục tùng là uy tín hoặc uy quyền. Nếu uy tín đóng vai trò là cơ sở quan trọng của sự phục tùng thì uy quyền vẫn là cơ sở chủ yếu.
Uy Quyền là phương tiện rất quan trọng để chủ thể quản lý buộc đối tượng quản lý phải phục tùng, là yếu tố không thể thiếu của quản lý. Từ những phân tích nêu trên và dựa trên những tài liệu đã được công bố, có thể hiểu quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện, cơ chế khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đặt ra, phù hợp với quy luật vận động khách quan của xã hội 1. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là một nội dung trong quản lý xã hội, là quản lý xã hội mang quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
9 Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước nhằm bảo đảm chấp hành pháp luật và các quyết định của các cơ quan quyền lực nhà nước để tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội, nói cách khác, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước. Từ khi xuất hiện nhà nước thì phần quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm, tức là nhà nước đứng ra quản lý những quan hệ xã hội cơ bản nhất, bao trùm nhất của đời sống xã hội, đó chính là quản lý nhà nước. Cùng với chủ thể quản lý đặc biệt là nhà nước, tham gia vào quản lý xã hội còn có một số chủ thể khác như các tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo., tuy nhiên, đối tượng và phạm vi điều chỉnh nhỏ hẹp hơn. Vì thế có thể coi quản lý xã hội là một khái niệm bao hàm quản lý nhà nước và quản lý phần công việc còn lại của xã hội.
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội do nhà nước thực hiện bằng bộ máy nhà nước, gắn với quyền lực nhà nước. Nội hàm của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử cụ thể. Quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thông qua các hoạt động đặc thù này mà quản lý nhà nước có những điểm khác biệt so với quản lý xã hội khác, cụ thể: quản lý nhà nước chỉ xuất hiện khi nhà nước xuất hiện.
Khi nhà nước xuất hiện thì phần quan trọng các công việc của xã hội do nhà nước quản lý; Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước.