Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước. 4 Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại tỉnh Bắc Kạn. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại tỉnh Bắc Kạn.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc 1. Tổng quan về chi thường xuyên ngân sách nhà nước 1. Ngân sách nhà nước a.
Khái niệm về ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước (NSNN) là một phạm trù kinh tế, phạm trù lịch sử và là một bộ phận trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia. Có nhiều quan niệm khác nhau về NSNN và chưa có sự thống nhất cả trong và ngoài nước. Theo Raymond Muzellec trong Finances Publiques (Tài chính công, Paris, 1995), định nghĩa: “Ngân sách Nhà nước là một văn kiện chính trị, pháp lý và tài chính thống kê toàn bộ các khoản thu và các khoản chi của nhà nước”.
Graham và William trong Từ điển tài chính quốc tế (London, 1999), định nghĩa: “Ngân sách là việc dự kiến trước các thu nhập và chi tiêu cho một thời kỳ trong tương lai, khác với tài khoản chỉ phản ánh các giao dịch tài chính sau khi nghiệp vụ đã phát sinh”. Theo luật NSNN năm 2015, định nghĩa: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước”. Từ các quan điểm khác nhau về NSNN, ta có thể kết luận rằng: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được hình thành theo trình tự pháp định và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Phân loại ngân sách nhà nước Theo Điều 6 - Luật NSNN năm 2015, ngân sách nhà nước bao gồm: ngân sách trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP).
- Ngân sách trung ương: là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. 6 - Ngân sách địa phương: Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND). Đặc điểm của ngân sách nhà nước NSNN là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước và là công cụ hữu ích để nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế và giải quyết các vấn đề của xã hội. NSNN có các đặc điểm sau: Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.
Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo. Thứ tư, NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp.
Quyền quyết định thu-chi của NSNN chủ yếu do người đứng đầu nhà nước quyết định. Hiện nay, việc lập dự toán, thảo luận và phê chuẩn NSNN được thực hiện bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là người dân được thực hiện thông qua Quốc hội. Chi ngân sách nhà nước a. Khái niệm chi NSNN Theo Phạm Văn Khoan (2010), chi NSNN là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của nhà nước.
Chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế-xã hội dựa trên các nguyên tắc nhất định. Về bản chất: Chi NSNN được hiểu là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Chính vì vậy, chi NSNN được hiểu là những việc cụ thể không chỉ dừng lại ở các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc cụ thể thuộc chức năng quản lý của nhà nước. 7 Như vậy, chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào quỹ NSNN cho từng mục tiêu, từng hoạt động, từng công việc cụ thể thuộc chức năng của nhà nước (Luật Ngân sách, năm 2015).
Từ khái niệm trên, cho thấy: - Quyền quyết định của chi NSNN là do nhà nước (Quốc hội, Chính phủ hay cơ quan nhà nước được ủy quyền) quyết định. -Chi NSNN không mang tính lợi nhuận, chú trọng đến lợi ích của cộng đồng, lợi ích xã hội. Đặc điểm chi NSNN Chi NSNN thực hiện vai trò của nhà nước, được coi là công cụ để nhà nước điều hành nền kinh tế theo những mục đích nhất định, góp phần thúc đẩy kinh tế và giải quyết những vấn đề về kinh tế-xã hội và khắc phục các khuyết tật của thị trường. Do vậy, chi NSNN có những đặc điểm sau: -Chi NSNN gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ.
Phạm vi và mức độ của chi NSNN phụ thuộc vào những nhiệm vụ cụ thể của nhà nước trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội. - Chi NSNN gắn với quyền lực nhà nước. - Các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô. - Các khoản chi của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp.
Điều này thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các hình thức các khoản chi NSNN. - Các khoản chi của NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng… (đây là các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ). Phân loại chi NSNN Tùy thuộc vào các mục tiêu khác nhau mà chi NSNN có các cách phân loại sau: * Theo tổ chức hành chính: Theo cách phân loại này ngân sách được phân loại theo đơn vị dự toán các cấp bao gồm; cấp I; cấp II; cấp III nhằm làm rõ trách nhiệm từng cấp trong quản lý ngân sách nói chung và kế toán, kiểm toán và quyết toán ngân sách Nhà nước nói riêng. 8 - Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND giao.
Đơn vị dự toán cấp I thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc, chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc. - Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị toán cấp III (trường hợp được uỷ quyền của đơn vị dự toán cấp I), chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị toán cấp dưới. - Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, được đơn vị toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc (nếu có). - Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III: được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện kế toán và quyết toán.
*Theo ngành nghề kinh tế quốc dân Phân loại theo tiêu thức này là dựa vào chức năng của Chính phủ đối với nền kinh tế-xã hội thể hiện qua 20 ngành kinh tế quốc dân, như: Nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy lợi; thủy sản; công nghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến; xây dựng; khách sạn nhà hàng và du lịch; giao thông vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính, tín dụng; khoa học và công nghệ; quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng; giáo dục và đào tạo; y tế và các hoạt động xã hội; hoạt động văn hoá và thể thao. Phân loại theo ngành kinh tế quốc dân nhằm so sánh chi ngân sách giữa các nước được thuận lợi theo Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) và cẩm nang Thống kê Tài chính của chính phủ (GFS) do Liên h ợp quốc xây dựng. T h e o c ách phân loại này giúp cho việc phân tích chính sách chi ngân sách phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của nhà nước trong từng thời kỳ. 9 * Theo nội dung kinh tế của các khoản chi Căn cứ vào nội dung kinh tế của các khoản chi mà chi NSNN có thể chia ra thành các nhóm, tiểu nhóm, mục, tiểu mục chi ngân sách.
Theo cách phân loại này thì các khoản chi được chia thành: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác. -Chi thường xuyên là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường dưới một năm. Nhìn chung, đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ cho chức năng quản lý và điều hành xã hội một cách thường xuyên của nhà nước như: Quốc phòng, an ninh, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.Thuộc loại chi thường xuyên gồm các nhóm, mục chi sau đây: + Chi thanh toán cho cá nhân như tiền lương; tiền công; phụ cấp lương; học bổng sinh viên; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; các khoản đóng góp như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.