CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các công trình nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến đề tài Quản lý vật tư hiệu quả là một trong những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp phát triển bền vững. Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật tư ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp.
Vật tư được đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, đúng chất lượng là điều kiện để sản xuất mở rộng và góp phần đảm bảo tiến độ sản xuất của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất, vật tư trực tiếp cấu thành sản phẩm, chiếm 60 – 70% trong cơ cấu giá thành. Do đó vật tư có vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngành xây dựng luôn được coi là ngành kinh tế quan trọng, là bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân.
Mặt khác, với đặc thù của ngành, vật tư là một yếu tố quyết định đến thành công của ngành. Chính vì lý do đó, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề tổ chức, quản lý cung ứng vật tư của các tác giả trong nước. Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân của Kim Quang Huy năm 2006 nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đảm bảo nguyên vật liệu đầu vào ở Công ty TNHH đèn hình Orion Hanel”. Tác giả đã khái quát về hoạt động nhằm bảo đảm nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất nói chung và sản xuất đèn hình nói riêng, đưa ra các yêu cầu trong hoạt động cung ứng nguyên vật liệu trong lĩnh vực sản xuất đèn hình.
Hoạt động đảm bảo đầu vào nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất nói riêng và đèn hình nói riêng bao gồm nhiều khâu từ xây dựng bộ máy, nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch mua sắm, tổ chức mua, quản lý sử dụng, thanh quyết toán và dự trữ. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá bao gồm các chỉ tiêu đánh giá trực tiếp và gián tiếp. Đưa ra các nhân tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng tới nâng cao hiệu quả hoạt động đảm bảo nguyên vật liệu ở các doanh nghiệp sản xuất đèn hình. Tác giả đã tập trung nghiên cứu điển hình về quản lý nguyên vật liệu cho doanh nghiệp.
Phân tích trực tiếp vào đặc điểm sản xuất đèn 6 hình của doanh nghiệp mình, đánh giá các tiêu chí, yêu cầu, yếu tố ảnh hưởng tới cung ứng nguyên vật liệu đầu vào để từ đó có được những giải pháp phù hợp nhất với doanh nghiệp. Đề tài rất chú ý đến công tác nghiên cứu thị trường nguyên vật liệu. Tác giả đã đưa ra giải pháp cụ thể để việc nghiên cứu thị trường hoàn thiện hơn nữa sử dụng hiệu quả nguồn thông tin từ internet, các kỹ năng cần thiết của nhân viên bộ phận này như ngoại ngữ, giao dịch quốc tế. Ngoài ra, tác giả cũng chú trọng đến các giải pháp nâng cao hiệu quả đàm phán, giao dịch với nhà cung ứng, vận dụng linh hoạt công nghệ thông tin trong lập kế hoạch bán hàng, nâng cao năng suất lao động của nhân viên trong đó phát huy vai trò đòn bẩy trong chính sách tiền lương.
Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân của Nguyễn Thị Minh Hương năm 2012 nghiên cứu về: “Quản trị nguồn vật tư nhập khẩu của Công ty CP Robot TOSY”. Là doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, chế tạo các sản phẩm đồ chơi công nghệ cao và Robot công nghiệp tại Việt Nam. Chiến lược của Công ty là tập trung trong phát triển Robot công nghiệp giá rẻ với mong muốn mở ra một thị trường hoàn toàn mới. Vì đặc trưng của các thành phần vật tư của Công ty chủ yếu là từ nguồn nhập khẩu.
Nên tác giả đi sâu phân tích về nguồn vật tư và tình hình nhập khẩu các loại vật tư, bên cạnh đó là khâu kiểm tra, kiểm soát chất lượng mà ít đề cập đến vấn đề tồn kho. Luận văn đã nêu ra những hiểu biết của tác giả, những cơ sở lý thuyết về vật tư nhập khẩu và sự cần thiết, tầm quan trọng của quản trị nguồn vật tư nhập khẩu. Tập trung vào phân tích, nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong khâu dự báo nhu cầu vật tư nhập khẩu, nghiên cứu thông tin về nguồn cung ứng bao gồm thông tin về vật tư, giá cả, nhà cung ứng, từ đó lập phương án tạo nguồn dựa trên những thông tin đã thu thập được. Đánh giá lựa chọn, đi đến thương lượng và thiết lập mối quan hệ kinh tế với các nhà cung cấp.
Trong phần thực trạng, tác giả đi sâu nghiên cứu về tình hình nhập khẩu của từng loại vật tư: giấy các loại và vật tư ngành in, hạt nhựa, kim loại và hợp kim, ngành cơ khí, linh kiện điện, điện tử, máy móc, thiết bị. Với những đánh giá về công tác quản trị nguồn vật tư tác giả đưa ra những ưu điểm: 7 - Đảm bảo nhu cầu vật tư cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất tại Công ty. - Xây dựng chiến lược nguồn vật tư nhập khẩu phù hợp với chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. - Có sự phân chia rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn trong hoạt động quản trị nguồn vật tư nhập khẩu.
Bên cạnh đó cũng đưa ra các nhược điểm trong quản trị nguồn vật tư của doanh nghiệp: - Hoạt động nghiên cứu thông tin về nguồn vật tư nhập khẩu tại Công ty chưa có chiều sâu. Công ty chưa phát huy hết khả năng trong việc tiếp cận các thông tin tin cậy về nguồn vật tư nhập khẩu. - Khả năng phối hợp và kết hợp thông tin giữa các phòng ban khác còn rời rạc, thiếu chặt chẽ. - Hệ thống chỉ tiêu đánh giá thế mạnh của các nhà cung cấp tiềm năng chưa được Công ty xây dựng một cách hiệu quả, khoa học.
Từ đó tác giả cũng tìm ra những nguyên nhân hạn chế khách quan, chủ quan trong các khâu nhập khẩu và sáu giải pháp nhằm tăng cường quản trị nguồn vật tư nhập khẩu của doanh nghiệp. Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân của Nguyễn Thị Thúy Hòa năm 2011 nghiên cứu về: “Quản trị chuỗi cung ứng vật tư nội bộ của Công ty TOYOTA MOTOR Việt Nam và kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam”. Phần cơ sở lý thuyết tác giả đi sâu nghiên cứu về chuỗi cung ứng nội bộ - là một bộ phận của quản trị chuỗi cung ứng. Đó là tập hợp những phương thức sử dụng một cách hợp lý hệ thống kho bãi, nhà xưởng cũng như cách thức dự trữ vật tư và sản xuất nhằm giảm thiểu chi phí toàn hệ thống trong khi vẫn thỏa mãn những yêu cầu về chất lượng sản phẩm và mức độ phục vụ.
Vì vậy nó bao gồm các bộ phận sản xuất, bộ phận phục vụ và các bộ phận chức năng có liên quan đến sản xuất và dự trữ hàng hóa tồn kho. Tác giả nghiên cứu về nội dung cơ bản của quản trị chuỗi cung ứng vật tư nội bộ tại các Công ty Nhật Bản, đặc biệt là tại TOYOTA MOTOR Việt Nam. TOYOTA MOTOR Việt Nam là một Công ty Nhật Bản có quy trình cung ứng vật tư bài bản, 8 đã được chuẩn hóa. Các quá trình, nguyên tắc, cơ chế được kiểm soát một cách chặt chẽ, mang lại hiệu quả cao.
Với các khâu, các giai đoạn trong cung ứng vật tư rõ ràng, đúng theo chuẩn thời gian đã góp phần tối đa hóa giá trị cho toàn hệ thống, cắt giảm được các chi phí không cần thiết, giảm thiểu mức tồn kho ở tất cả các công đoạn sản xuất. Với điểm nổi bật là lấy LP và JIT làm nền tảng, tác giả đi sâu phân tích kế hoạch hành động này. Tuy nhiên vẫn tồn tại một số nhược điểm mang tính chất khách quan: “Để gia tăng tỉ lệ nội địa hóa, các nhà cung ứng cần phát triển kĩ thuật làm sao đạt đến trình độ cạnh tranh toàn cầu. Hiện nay, các nhà cung ứng không sở hữu khả năng quản lý để phát triển những mối quan hệ và khả năng đầu tư phát triển chung.
Một cách hiển nhiên, cần có chợ điện tử để thỏa mãn như cầu của TOYOTA Việt Nam. Nó sẽ được ủng hộ bởi mục tiêu chính của Công ty để trở nên tự do trong việc chuyển đổi tiền tệ một cách minh bạch thông qua địa phương hóa. Sau đó, Công ty sẽ cố gắng tìm hiểu các nguồn tài nguyên từ trong nước đầu tiên trước khi nhập khẩu từ nước ngoài. Thị trường nội địa thì khá nhỏ, các nhà sản xuất xe, và các nhà cung ứng linh kiện phải tìm kiếm cơ hội xuất khẩu, mặc dù việc bán hàng ở thị trường nước ngoài đã thiết lập, song vẫn còn nhiều rào cản ở Châu Á.” Tác giả không tập trung vào các giải pháp giúp TOYOTA MOTOR Việt Nam nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng vật tư nội bộ mà hướng vào tìm kiếm các phương hướng và giải pháp nhằm áp dụng cách thức quản trị vật tư tiên tiến của các Công ty Nhật Bản vào các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế công nghệ ngày càng tiên tiến đổi mới như hiện nay.
Đề tài luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân của Đào Trúc Quỳnh năm 2013 về: “Quản trị cung ứng nguyên vật liệu của Công ty Cổ phần IPA – NIMA”. Đề tài nghiên cứu về cung ứng nguyên vật liệu của doanh nghiệp thời trang. Đặc điểm về nguyên vật liệu có một số khác biệt với nguyên liệu của các ngành khác: Khối lượng mỗi loại nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất có thể rất nhỏ, số lượng chủng loại nguyên liệu dùng cho mỗi sản phẩm loại rất lớn, mang đặc điểm mùa vụ, thường xuyên thay đổi theo xu hướng, khu vực. Phần thực trạng tác giả chủ yếu 9 chỉ ra các hoạt động của quá trình thực hiện cung ứng nguyên vật liệu trong doanh nghiệp, mà chưa chỉ rõ được các kết quả hay thực trạng của quá trình đó.
Luận văn đã tiếp cận một cách chi tiết các nội dung của hoạt động cung ứng nguyên vật liệu, từ đó áp dụng vào phân tích thực trạng Công ty nhưng vẫn thiên về quản trị hàng tồn kho và dự báo, cấp phát vật tư mà chưa chú trọng nhiều đến khâu quản trị nhà cung ứng. Đề tài luận văn thạc sĩ của Đinh Đức Thọ năm 2011 về: “Tổ chức hệ thống cung ứng nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Sông Đà 5” là một nghiên cứu về tổ chức cung ứng nguyên vật liệu trong xây dựng.