Mở đầu Chương 2. Cơ sở lí luận về quản lí công tác có vấn học tập Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4. Kết quá nghiên cứu và bản luận Chương 5.
Dé xuất biện pháp Tai liệu tham khảo Phụ lục. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC CÓ VÁN HỌC TẬP 2. Tầng quan nghiên cứu Nhiều Trường Cao đăng, Đại học dang đào tạo nguồn nhân lực theo hệ thông tín chỉ, phương thức đào tạo này đã mang lại sự tích cực, giúp sinh viên tự giác, tích cực, tạo sự chủ động cho sinh viên va trách nhiệm hơn với việc học tập của minh. Bên cạnh đó còn tôn tại một số bất cập như: nhiêu sinh viên vẫn chưa có thói quen làm việc độc lập.
chưa có định hướng rõ ring về ngành nghề, nên còn ling túng, bị động trong việc lựa chọn chuyên ngành và môn học. Nếu như không tự kiểm soát được mình, không tự xây đựng được kế hoạch riêng, không tuân thủ kế hoạch thời gian làm việc, không tự bảo vệ mình trước những cảm đỗ như cá độ, game online, “đứng núi nảy trông núi nọ”, không có tinh than học tập tốt. sẽ dan đến nhiều bạn học kém, bó học, không đi học (Minh Hường, 2016). Chính vi lí do trên ma công tac CVHT đã ra đời nhằm giúp sinh viên điều chỉnh, cải thiện hành vi, thái độ, nhận thức, năng lực và nhu cầu học tập đáp ứng yêu cầu của chương trình đảo tạo hoặc yêu câu học tập của SV dé họ thành công trong học tập thông qua sự tương tác giữa cô van học tập và SV.
Một số nhà nghiên cứu, nhà giáo dục cũng tiền hành nghiên cứu về vai trò, chức năng. nhiệm vụ, hoạt động của đội ngũ CVHT: CVHT không chỉ mở cửa cho sinh viên mà còn dùng khả năng của mình đẻ thương lượng với sinh viên theo cách riêng của họ thông qua chương trình giảng day, trải nghiệm cuộc sống. Mục tiêu cuối cùng của giáo dục đại học phải là sự duy trì, bên bi và tốt nghiệp của sinh viên; như vậy CVHT chính là chia khóa để tham gia vào sự nghiệp giáo dục của nha trường (Jayne K. Đổi với Nguyễn Duy Mộng Ha (2012), lại đưa ra quan điểm khải quát hau hết cúc nước trên thế giới người CVHT đều phải nắm vững chương trình dao tạo, cau trúc nội dung chương trình, trình tự sắp xếp các học phần một cách hợp lí, danh mục các học phan bắt buộc hay tự chọn phải học dé hướng dẫn lớp sinh viên do minh quan lí.
Đặt ra nhiều yêu cầu đôi với CVHT như yêu cau ve công tác CVHT phải đúng lúc, kịp thời với từng doi tượng hoặc nhóm đổi tượng; yêu cầu nang lực của đội ngũ CVHT phải đáp ứng được các yêu cầu vẻ chuyên môn và cách lĩnh vực liên quan đến học tập của sinh viên; đề cao kỹ năng tu van va giao tiếp. Trong bài “Hoạt động tư vẫn của cô van học tập tại trường Đại học Sư phạm Thành pho Ho Chí Minh” đã nghiên cứu vẻ nội dung tư van, trợ giúp sinh viên trong việc nghiên cứu khoa hoc, học tập, quản lí sinh viên qua quá trình lập kế hoạch và hòa nhập với môi trường sống, khảo sát trên 92 CVHT thu được kết quả “ki năng tư vấn của CVHT còn rất thấp" (Đỗ Tất Thiên, 2022). Điều nay chứng tỏ hoạt động của CVHT rat được quan tâm. Song các công trình nghiên cứu hau như tập trung vào lí luận chung, vai trò va trách nhiệm của cô vấn học tập hay việc nâng cao chất lượng CVHT, chưa có công trình nao nghiên cứu về nội dung hoạt động của cô vấn học tập và lam sao đề quan lí công tác cô vẫn học tập.
Ngoài ra, trên thực tế nhiều cô van học tập chưa nắm vững quy định, quy chế, chương trình đảo tạo của nhà trưởng, đôi khi sinh viên gặp vướng mắc tìm đến có vấn học tập thì trả lời mở “số tay sinh viên” ra đọc, thật ra có nhiều trường hợp phát sinh trong số tay sinh viên không có. Từ đó sinh viên trở nên ngại giao tiếp hơn với cô van học tập vì biết rằng * Có hỏi thì cổ van học tập cũng không nắm ro”. Một số khái niệm cơ bản 2. Quản li, quan lí giáo duc, quan li nhà trường 2.
Quản lí Quản lí được xem là một loại hình lao động đòi hỏi cần có tính khoa học và nghệ thuật cao. Không phải một định nghĩa quá xa vời, to lớn hay khó hiểu ma tồn tai trong cuộc sông hàng ngày của mỗi người như: quán lí tiền, quản lí thời gian học tập, quan lí gia đình, quản lí cảm xúc. của chính chúng ta. Tuy nhiên dé hiểu một cách khoa học hơn vẻ quản lí, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm sau: Taylor (1856 - 1915) cho rằng: quản lí là người chịu trách nhiệm vả biết chính xác điều họ muốn người khác làm cũng là người hiểu được rằng tô chức của mình đã hoàn thành công việc đạt ở mức độ nào.
Còn quan niệm của Koontz (1993) quản lí là một hoạt động thiết yêu nhằm đảm bao sự phối hợp giữa năng lực của những cá nhân để đạt được mục đích của tập thẻ. Mục tiêu của quản lí là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thê đạt được những mục đích của nhóm như tiền bạc, thời gian, vật chất cả những sự bat man của cá nhân. Ở Việt Nam, tác giả Tran Kiểm định nghĩa quan lí là những tác động của chủ the quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (vat lực. tài lực, nhân lực) trong và ngoai tổ chức một cách tối ưu nhằm dat được mục đích với hiệu quả cao nhất của tổ chức (Trần Kiểm, 2008).
Trong bài "Những khái niệm cơ bản về lí luận quản lí giáo dục” của Nguyễn Ngọc Quang, ông đã định nghĩa quản lí chính là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chú thé quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tô chức dé vận hanh tô chức, nhằm đạt được mục đích nhất định (Nguyễn Ngọc Quang, 1987). Tóm lại, cách phát biêu khái niệm quản lí của các tác giả trên tuy khác nhau về cách dién đạt nhưng cho chúng ta thấy được điểm chung của quản lí chính là sự tác động của chủ thê quản lí đến đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu dé ra và giúp tô chức có được hiệu quả cao. Quan lí giáo duc Cũng như khái niệm ve quản lí, quan lí giáo dục cũng có nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Trong đó có hai hướng tiếp cận pho biến là vĩ mô va vi mô.
Quản lí giáo dục theo bình diện vĩ mô được hiểu là những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống của chủ thé quản lí tác động đến tat cả các mắt xích trong toàn hệ thống (từ cấp cao nhất đến từng cơ sở giáo dục) nhằm thực hiện có chất lượng vả hiệu quả mục tiêu phát triển va đảo tạo thé hệ trẻ ma xã hội giao phó cho ngành giáo đục (Phan Duy Khánh, 2012). Quan điểm này tương ứng với khái niệm quản lí giáo dục trên phạm vi ca nước hay toản hệ thông của một tỉnh/ thanh pho hoặc một cấp học cụ thể nào đó ở tầm vĩ mô. Trên bình điện vi mô theo tác giá Phan Duy Khánh (2012) cho rang quản lí giáo dục là hệ thông những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thé quản lí (Hiệu trưởng) tác động trực tiếp đến đổi tượng quản lí (giáo viên, công nhân viên, tập thé học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo đục của nhà trường. 10 Nhu vậy quan điểm nay tương ứng với khái niệm quản lí giáo dục trong phạm vi một cơ sở giáo dục/một trường học cụ thê.
Quản lí trường học Trường học là một tô chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước - xã hội, là nơi trực tiếp làm công tác đảo tạo và giáo dục thé hệ trẻ, nằm trong môi trường xã hội va có tác động qua lại với môi trường đó. Người đứng đầu nhà trường được gọi là hiệu trưởng, sẽ là người chịu trách nhiệm quản lí các hoạt động của nha trưởng do cơ quan nhà nước có thâm quyên bé nhiệm hoặc công nhận (Phan Thị Thanh Thúy, 2014). Như vậy, quản lí nhà trường bao gồm quán lí hoạt động bên trong nhà trường vả các hoạt động phối hợp giữa nhả trường với các lực lượng giáo đục khác. Quản lí nha trưởng chính là việc thực hiện đường lỗi giáo duc cha Dang trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hảnh theo nguyên lí giáo dục đề tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đảo tạo đỗi với ngành giáo dục, thé hệ trẻ và từng học sinh (Nguyễn Tiền Dat, 2007).
Theo Tran Kiêm đã định nghĩa quan lí nhà trường là hệ thong những tác động tự giác của chủ thé quản lí đến tập thẻ giáo viên, công nhân viên, cha mẹ học sinh và các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường (Trần Kiểm, 2008). Từ những khái niệm trên, quan lí trường học chính là quản lí giáo duc theo cap vi mô. Quản lí nhà trường còn được hiểu là sự tác động trực tiếp có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thé quản lí (Hiệu trưởng) lên đối tượng quan lí (tập thé giáo viên, học sinh, phụ huynh và các lực lượng phối hợp khác) nhằm cho bộ may của nha trường van hành tốt dé đạt được mục tiêu của nha trường. Co vẫn Có van là người am tường về một lĩnh vực nào đó va thường xuyên được cá nhân hoặc tô chức hỏi ý kiên dé tham khảo khi giải quyết công việc (Phạm Thanh Hải & Lê Hoàng Minh Nhật, 2016).
Theo Nguyễn Ngọc Tai & Trinh Văn Anh (2016), cỗ van chính là người định hướng, dan đường, tư vẫn dé người hỏi nên theo đó ma hành động. 11 Tóm lại, CVHT là công việc định hướng, dẫn đường, tư van yêu cầu người làm công tác này phải am tường về một lĩnh vực nào đó và thường xuyên được cá nhân, tô chức hỏi ý kien tham khảo nham giải quyết công việc. Có van học tập Cộng dong Tư van học thuật toàn cầu Nacasa cho rằng: cô van học tập là sự tương tác có chủ đích với chương trình giảng dạy để sử dụng phương pháp sư phạm và tập hợp các kết quả học tập của sinh viên.