phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương, 11 tiết 7 NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Khái niệm CVHT Hiện nay, qua tham khảo một số các trường đại học, cao đẳng trên phạm vi cả nước, đa số các trường sử dụng thuật ngữ “CVHT”, một số trường khác sử dụng thuật ngữ “Giáo viên chủ nhiệm”, thậm chí có trường giai đoạn đầu gọi là CVHT sau đó đổi thành GVCN. Tuy có khác biệt về tên gọi, song chức năng, nhiệm vụ về cơ bản không khác nhau. Thiết nghĩ, để phù hợp với Qui chế 43 của Bộ Giáo dục và đào tạo, trong Qui chế này nên sử dụng tên gọi là “CVHT”.
Để hiểu rõ về CVHT, trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm cố vấn. Theo Từ điển tiếng Việt của GS. Hoàng Phê (chủ biên, 1998) thì “Cố vấn là người thường xuyên được hỏi ý kiến để tham khảo công việc”. Như vậy, cố vấn chính là người định hướng, dẫn đường, tư vấn để người được hỏi nên theo đó mà hành động.
Trong giáo dục và đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, cho đến nay có nhiều quan niệm về CVHT, nhưng định nghĩa được nhiều người thừa nhận thì: “CVHT là người tư vấn và hỗ trợ SV phát huy tối đa khả năng học tập, lựa chọn học phần phù hợp để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp và khả năng tìm được việc làm thích hợp; theo dõi thành tích học tập của SV nhằm giúp SV điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra lựa chọn đúng trong quá trình học tập; Quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo lớp được phân công phụ trách đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của SV”. CVHT là một chức danh trong hệ thống các chức danh của cơ sở đào tạo theo học chế tín chỉ. Vai trò, nhiệm vụ của CVHT 1. Vai trò của CVHT Học chế tín chỉ (phương thức đào tạo theo hình thức tín chỉ) là hình thức đào tạo SV phải tích lũy khối lượng kiến thức định sẵn, khi nào tích lũy xong mới tốt nghiệp ra trường.
Nét đặc trưng của hệ thống tín chỉ là kiến thức được cấu trúc thành các học phần. Do đó, lớp học được tổ chức theo từng học phần; đầu mỗi học kỳ, SV được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ và phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức 8 theo một ngành chuyên môn chính nào đó theo sở thích và định hướng nghề nghiệp của SV sau này. Ưu việt của hình thức đào tạo tín chỉ là SV được hoàn toàn chủ động lựa chọn trong việc tích lũy nhóm kiến thức phù hợp với định hướng nghề nghiệp, phù hợp năng lực, sở thích cá nhân và phù hợp với kế hoạch cá nhân. Tuy nhiên, đào tạo theo hình thức tín chỉ cũng có những khiếm khuyết nhất định, cần nhận diện và tìm kiếm giải pháp khắc phục: Thứ nhất: Nếu như trong hình thức đào tạo theo niên chế, nhà trường thiết kế chương trình đào tạo và kế hoạch học tập cho SV, 01 thời khóa biểu chung cho tất cả SV của lớp chuyên ngành, còn trong học chế tín chỉ SV tự thiết kế cho mình kế hoạch học tập, tự xây dựng thời khóa biểu của riêng mình dựa vào chương trình đào tạo của nhà trường.
Vấn đề đặt ra là SV có đủ kiến thức, kinh nghiệm để thiết kế cho mình một kế hoạch học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp của mình hay không? Phần lớn SV hệ chính qui vừa tốt nghiệp THPT chưa hiểu biết nhiều về lĩnh vực mình sẽ học, việc học hỏi kinh nghiệm từ các thế hệ SV khóa trước cũng hạn chế, nhất là trong những năm đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ. Những điểm yếu đang lộ rõ tại nhiều trường trong quá trình thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ: Theo Hiệu trưởng Trường CĐ Công nghiệp Nam Định, ông Trần Ngọc Lợi, thì: “Hầu hết SV đều gặp khó khăn khi lựa chọn và đăng ký học phần, do SV không biết nên đăng ký học phần nào trước, học phần nào sau”. Theo ông, tính chủ động của SV rất thấp. SV không quen làm việc độc lập, vẫn giữ tư duy dựa vào giáo viên chủ nhiệm và cán bộ lớp.
Vì vậy, nhiều SV không biết trường tổ chức những môn học nào, kế hoạch học tập ra sao…Bằng chứng là ĐH Bách khoa TP.HCM và ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM khi mới đào tạo theo hệ tín chỉ cũng có gần 500 SV ở mỗi trường bị buộc thôi học [28]. Thứ hai: đào tạo theo hình thức niên chế, nhà trường quản lý SV theo lớp, mỗi lớp có 01 GVCN. Lớp là tổ chức tương đối chặt chẽ, thống nhất và bao quát toàn bộ các lĩnh vực từ học tập, thi cử, đến việc tham gia các phong trào, các hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội, kể cả sinh hoạt nội trú… Đơn vị lớp trong hệ niên chế ổn định và xuyên suốt qua các năm học cho đến khi SV ra trường. Trong khi đó theo học chế tín chỉ, xuất hiện đồng thời hai hệ thống tổ chức (lớp theo khoa chuyên ngành và lớp theo mỗi học phần).
Trong 9 đó, lớp SV (lớp theo chuyên ngành) giữ cố định trong cả khóa học, nơi hình thành các tổ chức đoàn thể của SV, tổ chức đánh giá kết quả rèn luyện của SV, song chỉ là danh nghĩa và hình thức bởi 90% thời gian ở trường SV lên lớp theo lớp học phần. Trong khi đó lớp học phần là tạm thời, cấu trúc nội bộ lỏng lẻo, nơi thông báo các thông tin về học tập và tổ chức các hoạt động học tập liên quan đến học phần đó. Vì vậy, việc theo dõi mức độ chuyên cần trong học tập và xét kết quả rèn luyện của SV là một vấn đề nan giải. Hơn thế nữa, Học chế tín chỉ bỏ hẳn điều kiện dự thi, có nghĩa là SV không cần lên lớp.
Điều này sẽ tạo cho SV có ý thức kém trong học tập sẽ càng có thói quen chây lười dẫn đến có nhiều SV bị tạm ngưng hoặc buộc thôi học vì kết quả học tập kém cỏi. Phân tích trên đây cho thấy sự đa dạng trong công tác quản lý SV trong đào tạo tín chỉ. Quản lý SV trong đào tạo theo tín chỉ có thể xem như là quản lý “động”. Việc quản lý theo kiểu “động“ là một khó khăn, thách thức và đòi hỏi phải thay đổi nhận thức và cách thức tổ chức đào tạo, cách thức quản lý SV.
Từ hai lý do trên cho thấy CVHT có vai trò vô cùng quan trọng trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Quá trình học tập, rèn luyện của SV đạt kết quả tốt hay không phụ thuộc rất lớn vào vai trò định hướng, quản lý, giám sát của CVHT. Vai trò của CVHT thể hiện ở một số điểm sau: 1. Vai trò của CVHT đối với hoạt động học tập của sinh viên: - CVHT là người giúp SV hiểu rõ ngành học mà SV đã lựa chọn, giúp SV khẳng định lại quyết định lựa chọn ngành nghề mà trước đây do thiếu thông tin có thể họ chưa thật hiểu hết những ngành nghề mà họ đã chọn.
CVHT làm cho SV hiểu rõ hơn ngành nghề tương lai của mình, những đặc thù nghề nghiệp, cơ hội việc làm trong tương lai và cả những phẩm chất cần có để hành nghề được thuận lợi nhất. CVHT giúp SV ổn định tâm lý, chuẩn bị tâm thế cho một chương trình học tập của SV trong trường đại học. - CVHT giúp SV xây dựng định hướng và kế hoạch học tập, trong đó CVHT phải giúp SV hiểu rõ mục tiêu, nội dung, chương trình môn học, lộ trình học tập của các giai đoạn, các năm học. CVHT tư vấn giúp SV hiểu rõ mục tiêu của từng môn học, những điều kiện tiên quyết khi lựa chọn môn học 10 và xác định môn nào học trước, môn nào học sau và những nội dung cần giải quyết để hoàn thành tốt nhất môn học.
Nếu CVHT là giáo viên trực tiếp giảng dạy các môn học cụ thể của nhóm hay lớp mình làm cố vấn thì có thể tư vấn cho học sinh những vấn đề cụ thể hơn, như xác định những vấn đề nào cần giải quyết ở trên lớp, vấn đề nào làm việc theo nhóm, vấn đề nào SV tự học ở nhà và hướng dẫn những hoạt động tự học cho SV. - CVHT là người hướng dẫn SV lựa chọn và tìm kiếm các phương tiện học tập, các nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho học tập một cách có hiệu quả. Hơn ai hết CVHT cũng là các giảng viên nắm rõ tình hình trang thiết bị, phòng thí nghiệm và các nguồn tài liệu phục vụ học tập của cơ sở đào tạo rõ nhất, vì vậy họ sẽ là người tư vấn, hướng dẫn tốt nhất cho SV trong quá trình học tập ở trên lớp và tự học ở nhà. Có vấn học tập giúp SV rút ngắn quá trình tìm kiếm tài liệu và lựa chọn những tài liệu đáng tin cậy nhất để học tập và tham khảo.
CVHT cũng có thể là người trọng tài phân xử những tranh luận của SV trong việc lựa chọn tài liệu, phương tiện học tập. - CVHT là người theo dõi sự tiến bộ trong quá trình học tập của SV và kế hoạch, tiến độ học tập của SV. CVHT không chỉ kiểm tra quá trình học tập ở trên lớp mà còn kiểm tra quá trình tự học của SV, kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong học tập và thực hiện kế hoạch, tiến độ học tập của SV, kịp thời đưa ra những lời khuyên bổ ích, giúp học sinh tự điều chỉnh những lệc lạc có thể xảy ra. Vai trò của CVHT đối với hoạt động rèn luyện của sinh viên Các hoạt động văn nghệ, thể thao và hoạt động đoàn thể trong nhà trường cũng như ngoài xã hội giúp SV rèn luyện thân thể, tăng cường tính cộng đồng, tham gia hoạt động xã hội v.
CVHT giúp SV hiểu rõ mục tiêu của các hoạt động rèn luyện trong nhà trường, giúp họ có ý thức, lòng say mê trong việc tham gia các hoạt động chính trị- xã hội, văn hóa, văn nghệ, thể thao, các hoạt động hướng đến lợi ích cộng đồng, phòng chống tệ nạn xã hội, rèn luyện thành con người phát triển toàn diện cả về đức, trí, thể, mỹ. Ngoài công tác tư vấn về học tập, CVHT còn đảm nhiệm vai trò theo dõi, đôn đốc SV trong hoạt động rèn luyện ở nhà trường; kết hợp với ban cán sự lớp, chi đoàn, hội SV. đánh giá thành tích hoạt động, tình hình vi phạm 11 qui chế của SV từ đó đánh giá kết quả rèn luyện của SV… 1.